Vẫn tồn tại một lượng không nhỏ các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến các hoạt động khoa học và công nghệ.

Chủ trương coi doanh nghiệp là trung tâm của quá trình đổi mới, phát triển công nghệ đã được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước.  Trên cơ sở đó, thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã:

1. Nỗ lực xây dựng, trình Quốc hội và Chính phủ ban hành nhiều văn bản pháp luật và ban hành văn bản theo thẩm quyền nhằm hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) như:

- Luật Khoa học và công nghệ năm 2000 (được sửa đổi năm 2013), khẳng định rõ Nhà nước bảo đảm chi cho hoạt động khoa học và công nghệ từ 2% trở lên trong tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm và sẽ tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp khoa học và công nghệ. Doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa được quỹ của Nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ cho vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất, bảo hành để vay vốn. Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng ưu đãi ở mức cao nhất theo quy định của pháp luật về công nghệ cao. Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong nhà nước được hỗ trợ lãi suất vay vốn tại ngân hàng.

- Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tạo lập khuôn khổ pháp lý cho việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cho các lực lượng tham gia vào hoạt động đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện hỗ trợ cần thiết để các cá nhân, tổ chức phát triển tài sản trí tuệ,

- Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006, trao quyền sử dụng, quyền sở hữu và hình thức phân chia lợi nhuận đối với các kết quả nghiên cứu khoa học, xác lập cơ chế, chính sách khuyến khích để thúc đẩy chuyển giao, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp thông qua các ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai và hỗ trợ của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV thay thế công nghệ lạc hậu, ứng dụng công nghệ tiên tiến, làm chủ công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam.

Cơ sở sản xuất, kinh doanh đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh tháo, nâng cao năng lực sản xuất được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập tăng thêm trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 7 năm tiếp theo; doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ có tiếp nhận công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao được miễn thuế thu nhập trong 4 năm với điều kiện tổng giá trị miễn thuế không vượt quá 50% tổng kinh phí đầu tư cho đổi mới công nghệ.

- Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006,

- Luật Chất lượng, sản phẩm hàng hóa năm 2007 cung cấp các quy định pháp lý cần thiết về tiêu chuẩn, chất lượng đối với sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam,

- Luật Công nghệ cao năm 2008, quy định các cơ chế khuyến khích, đãi ngộ dối với hoạt động phát triển công nghệ cao, đặc biệt là nhân lực có trình độ công nghệ cao, khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ cao, đầu tư phát triển công nghệ cao, tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV tham gia hình thành mạng lưới cung ứng sản phẩm, dịch vụ phụ trợ cho ngành công nghệ cao. Doanh nghiệp công nghệ cao được hưởng ưu đãi cao nhất theo quy định pháp luật về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, được xem xét hỗ trợ kinh phí đào tạo, nghiên cứu và phát triển, sẩn xuất thử nghiệm từ kinh phí của Chương trình quốc gia phát triển công nghê cao,

 - Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 phê duyệt Chương trình quốc gia nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020,

- Quyết định số 2441/QĐ-TTg ngày 31/12/2010 phê duyệt Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020,

- Quyết định số 2457/QĐ-TTg ngày 31/12/2010 phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao,

- Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2011 phê duyệt Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia,

- Quyết định số 1342/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia với quy mô vốn 1000 tỷ đồng từ ngân sách. Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia hiện đã hoàn thiện cơ cấu tổ chức và chính thức đi vào hoạt động,

 - Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao,

- Quyết định số 347/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao,

- Thông tư số 20/2010/TT-BKHCN ngày 29/12/2010 quy định về tổ chức, điều hành, quản lý Chương trình quốc gia “Nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”,

- Thông tư liên tịch số 130/2011/TTLT-BTC-BKHCN ngày 16/9/2011 quy định chế độ quản lý tài chính đối với các nhiệm vụ thuộc Chương trình gia “Nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”,

- Thông tư liên tịch số 218/2012/TTLT-BKHCN-BTC ngày 20/12/2012 hướng dẫn quản lý tài chính thực hiện Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020,

- Thông tư số 09/2013/TT-BKHCN ngày 15/3/2013 hướng dẫn quản lý Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2011),

- Thông tư số 04/2013/TT-BKHCN ngày 30/1/2013 hướng dẫn tiêu chí đánh giá đề tại, dự án thuộc Chương trình đổi mới khoa học công nghệ quốc gia,

- Thông tư số 03/2013/TT-BKHCN ngày 30/1/2013 hướng dẫn xác định, tuyển chọn, thẩm định và giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình đổi mới khoa học công nghệ quốc gia,

- Thông tư số 10/2013/TT-BKHCN ngày 29/3/2013 hướng dẫn quản lý Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020, …

2. Tình hình triển khai hỗ trợ DNNVV thông qua các Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia

Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ của các chương trình. Với sự hợp tác chặt chẽ và tích cực của các bộ, ngành, địa phương, các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia đang bắt đầu có những kết quả, mang đến tác động tích cực cho các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp tham gia vào hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ.

Một trong những điểm quan trọng khi triển khai các chương trình quốc gia là lấy doanh nghiệp làm trung tâm để đổi mới và ứng dụng khoa học công nghệ, tập trung các nguồn lực đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để hình thành, phát triển các sản phẩm, hàng hóa thương hiệu Việt bằng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, có khả năng cạnh tranh, nâng cao năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp và tiềm lực công nghệ quốc gia.

- Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia: Năm 2014, triển khai 8 nhiệm vụ có tính cấp bách, khả thi trên tổng số 55 đề xuất từ các bộ, ngành, địa phương. Năm 2015, con số này là 7/49 đề xuất. Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia làm đơn vị chủ trì nhiệm vụ thuộc Chương trình chiems 40%. Kinh phí đối ứng đầu tư từ các doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ chiếm 37% tổng kinh phí của nhiệm vụ.

Dự án “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống chiếu sáng chuyên dụng và xây dựng quá trình sử dụng hệ thống chiếu sáng chuyên dụng trong công nghiệp nhân giống và điều khiển ra hoa một số cây trồng với quy mô công nghiệp” do CTCP Bóng đèn phích nước Rạng Đông chủ trì thực hiện đã chế tạo thành công hệ thống đèn chiếu sang chuyên dụng trong nhân giống cây thanh long, hoa cúc thương phẩm, đưa vào kiểm nghiệm thực tế trong điều khiển ra hoa, trái vụ cho các loại cây trồng trên tại các tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng, Đà Lạt, Tây Ninh, Tiền Giang, Bắc Ninh…, tiết kiệm từ 50% đến 75% điện năng tiêu thụ so với phương pháp chiếu sáng thông thường.

Đề tài “Nghiên cứu chiết tách dầu dừa tinh khiết bằng công nghệ không gia nhiệt” do Viện Ứng dụng công nghệ chủ trì, nghiên cứu thành công quy trình chiết tách dầu dừa tinh khiết VCO với chất lượng đạt tiêu chuẩn của APCC (tổ chức về dừa của châu Á-Thái Bình Dương) và đang tiến hành chuyển giao dây chuyền sản xuất quy mô 300 lít/mẻ cho Công ty Lương Quới (Bến Tre). Khi áp dụng công nghệ đã được nghiên cứu chuyển giao, giá trị dầu dừa VCO tăng ít nhất 4 lần so với dầu dừa tinh luyện hiện này.

Dự án “Nghiên cứu ứng dụng kết hợp công nghệ sinh học, công nghệ canh tác tiên tiến và công nghệ thông tin trong sàng lọc, chọn tạo và sản xuất hạt cây giống trồng mới” do Công ty TNHH Việt Nông chủ trì thực hiện đã đổi mới quy trịnh chọn tạo 12 giống rau màu mới ở Việt Nam đạt các tiêu chuẩn giống quốc gia, một số giống đã bán trên thị trường, một số giống đang được khảo nghiệm để đăng ký bảo hộ giống.

Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến chọn tạo giống lúa thuần chống chịu mặn-hạn thích nghi với điều kiện canh tác lúa vùng nhiễm mặn thuộc đồng bằng sông Cửu Long” do Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long thực hiện đã chọn tạo và thử nghiệm thành công 02 giống lúa thuần ngon, chiun mặ-hạn cho canh tác, sẵn sang cung cấp cho sản xuất trong thời gian tới.

- Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ: chương trình được triển khai đã có tác động tích cực, tạo giá trị gia tăng, nâng cao nhận thức và thúc đẩy hoạt động sáng tạo trong khoa học, công nghệ và sở hữu trí tuệ,… đăng ký sang chế cho 20 giải pháp kỹ thuật, trong đó có nhiều kết quả sáng tạo của các DNNVV, phê duyệt chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ riêng cho các doanh nghiệp, các sản phẩm đặc thù của một số địa phương, thực hiện 11 dự án đưa kết quả nghiên cứu, sáng chế vào thực tiễn đời sống. Thông qua chương trình, có gần 50 hiệp hội, hội các nhà sản xuất, kinh doanh sản phẩm được thành lập nhằm tập hợp sức mạnh, huy động nguồn lực xã hội để cùng phát triển sản xuất, kinh doanh (Nước mắm Phú Quốc, chè Shan tuyết Mộc Châu, vải thiều Lục Ngạn, cà phê Buôn Ma Thuột, hoa Đà Lạt…)

- Chương trình nâng cao năng suất và chất lượng, sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam: Bộ Khoa học và Công nghệ đã hướng dẫn và triển khai việc xây dựng mô hình, áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Đến nay, đã phê duyệt và triển khai thực hiện 04 dự án năng suất chất lượng của Bộ, ngành và 36/44 dự án năng suất chất lượng của địa phương, kinh phí hỗ trợ khoảng 134 tỷ đồng.

- Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn miền núi đã triển khai thực hiện 845 dự án tại 62 tỉnh, thành phố, chuyển giao được 4.761 lượt công nghệ vào sản xuất, đào tạo 11/063 kỹ thuật viên cơ sở, đào tạo ngắn hạn cho trên 1.725 cán bộ quản lý khoa học công nghệ ở địa phương, tập huấn cho 236.264 lượt nông dân.

- Ngoài ra, còn có Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, Chương trình sản phẩm quốc gia đến năm 2020, Chương trình hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm với mục tiêu hỗ trợ một số viện, trường, doanh nghiệp khoa học và công nghệ có được kết quả nghiên cứu tốt, có quá trình đổi mới công nghệ tốt, sớm đạt được mục tiêu chiến lược phát triển khoa học và công nghệ.

3. Hỗ trợ hoạt động ươm tạo phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Hỗ trợ các doanh nghiệp khoa học và công nghệ tiếp cận chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, Tiếp tục hỗ trợ một số địa phương về công tác rà soát thống kê doanh nghiệp tiềm năng, thẩm định hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp viết đề án tham gia chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tổ chức khoa học công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Tư vấn hỗ trợ một số trường đại học, viện nghiên cứu xúc tiến việc thành lập các trung tâm ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

4. Hỗ trợ DNNVV áp dụng các hệ thống quản lý

Thực hiện tư vấn, hướng dẫn tại chỗ các doanh nghiệp áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001, công cụ quản lý theo phương pháp 5S, công cụ cải tiến năng suất Kaizen…, tạo cơ sở “nền” cho doanh nghiệp để có thể thực hiện, áp dụng các hệ thống, công cụ mới, phức tạp hơn. Tổng số doanh nghiệp được lựa chọn, tư vấn, hướng dẫn áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, mô hình, công cụ cải tiến năng suất chất lượng trong giai đoạn 2011-2015 là 1.137 doanh nghiệp. Tính đến hết tháng 5/2015, đã có 778 doanh nghiệp hoàn thành việc xây dựng, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, mô hình, công cụ cải tiến năng suất chất lượng. Cụ thể:

TT

Nội dung

Số lượng doanh nghiệp

1

ISO 50001

11

2

ISO 31000

03

3

ISO/IEC 27001

10

4

ISO 22000

70

5

ISO 14000

10

6

ISO 9001:2008

250

7

ISO 9001 tích hợp ISO 3834

50

7

Áp dụng tích hợp nhiều hệ thống

15

8

TPM, Lena, KPIs, MFCA, BSC, Global GAP, 5S

359

Đã tổ chức 500 khóa đào tạo cho khoảng 7500 lượt cán bộ tại doanh nghiệp. Theo báo cáo của các Bộ, địa phương: đã tích cực triển khai hoạt động hỗ trợ DNNVV cho hơn 1000 doanh nghiệp.

Đánh giá cho thấy, sau khi tham gia Chương trình, nhận thức của các doanh nghiệp về hoạt động quản lý, hoạt động cải tiến năng suất chất lượng được thay đổi và nâng lên rõ rệt, ý thức của người lao động được nâng cao, tăng thêm khả năng làm việc theo nhóm, kỹ năng tổng hợp, phân tích quá trình, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật… Nhiều doanh nghiệp đã đánh giá cao lợi ích thiết thực khi tham gia Chương trình và sự hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả lâu dài từ Chương trình.

Đánh giá chung: Mặc dù đến nay đã có nhiều doanh nghiệp quan tâm, đầu tư và tận dụng tốt các cơ chế, chính sách hỗ trợ của nhà nước để đổi mới, phát triển công nghệ phục vụ việc nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm hàng hóa và đặc biệt là năng lực cạnh tranh nhưng vẫn tồn tại một lượng không nhỏ các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến các hoạt động khoa học và công nghệ, có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, các doanh nghiệp của Việt Nam phần lớn quy mô nhỏ và vừa, chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp, các doanh nghiệp tham gia trực tiếp sản xuất chỉ chiếm tỷ lệ thấp. Do vậy, không có nhiều nhu cầu và động lực thực hiện các nỗ lực đổi mới, phát triển công nghệ thống qua các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Hơn nữa, do quy mô doanh nghiệp nhỏ nên khả năng huy động kinh phí để tổ chức hoạt động nghiên cứu sẽ gặp nhiều khó khăn hơn các doanh nghiệp lớn. Theo nghiên cứu khảo sát của Viện Quản lý kinh tế Trung ương, các doanh nghiệp nhà nước vẫn nhận được bao cấp trong phát triển sản xuất, kinh doanh nên ít quan tâm đến phát triển năng lực công nghệ lâu dài.

Thứ hai, các chính sách của nhà nước liên quan đến thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp đến nay cơ bản mới tác động theo hướng “khuyến khích” chứ không có “ép buộc” hoặc có “chế tài” cần thiết để doanh nghiệp phải có thêm những ưu tiên cho việc nghiên cứu, đổi mới công nghệ.

Thứ ba, cơ chế khuyến khích, ưu đãi về thuế, tín dụng và đất đai liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ của doanh nghiệp được thực hiện không nhất quán, đồng bộ do mức độ nhận thức khác nhau giữa các bộ, ngành, lĩnh vực và các ngành, các cấp chưa thông suốt, chưa đồng bộ dẫn đến việc thực thi các cơ chế, chính sách của nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu và nhu cầu của đời sống, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp.

Thứ tư, việc xác định và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước vẫn còn những bất cập, thủ tục còn phức tạp đối với những doanh nghiệp muốn tham gia nghiên cứu.

Thứ năm, cơ chế và chính sách tài chính hiện hành trong hoạt động khoa học và công nghệ còn những hạn chế, chưa phù hợp với đặc thù thù của hoạt động khoa học và công nghệ, làm giảm năng lực sáng tạo, gây khó khăn cho tổ chức, cá nhận và doanh nghiệp tham gia thực hiện.

Thứ sáu, thị trường khoa học và công nghệ ở nước ta còn sơ khai, chưa phát triển đúng với tiềm năng. Nguồn cung công nghệ trong nước còn chưa đa dạng, số lượng và chất lượng giao dịch công nghệ còn hạn chế, mạng lưới tổ chức dịch vụ mua bán, chuyển giao công nghệ chưa phát triển. Môi trường pháp lý để thị trường công nghệ vận hành còn chưa đồng bộ, cơ chế thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn yếu kém. Các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước được áp dụng vào sản xuất kinh doanh không cao, chưa có nhiều đề tài được cấp bằng bảo hộ sáng chế. Việc hình thành các tổ chức trung giam, môi giới công nghệ mới ở giai đoạn khởi đầu.

6. Một số đề xuất giải pháp thúc đẩy DNNVV tham gia hoạt động khoa học và công nghệ

Thứ nhất, đổi mới cơ chế quản lý và cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ để tạo hành lang thông thoáng, thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân và đặc biệt là doanh nghiệp có thể tham gia thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ kịp thời, đáp ứng được các yêu cầu và nhu cầu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cần có thêm sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành trong hướng dẫn thực hiện về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ trong Nghị định số 95/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ.

Thứ hai, trong thời gian quan, Bộ Khoa học và Công nghệ đã rất nỗ lực vận dụng các nguồn lực tài chính, vốn hạn hẹp (khoảng 2% tổng chi ngân sách) cho hoạt động nghiên cứu và đầu tư phát triển hạ tầng cho khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư như vậy chưa thể tới ngưỡng để việc nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp có thể đạt được hiệu quả đề ra. Rất cần có cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương để gắn kết các nguồn lực đầu tư từ các nguồn ngân sách nhà nước khác nhau, trong đó có nguồn đầu tư của khoa học và công nghệ để việc sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp có thể được đồng bộ từ giai đoạn nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới, đổi mới công nghệ đến khâu sản xuất, đưa sản phẩm ra thị trường và xúc tiến phát triển thị trường.

Thứ ba, việc thực hiện các cơ chế, chính sách tài chính, tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, đổi mới công nghệ cần phải được thực hiện đồng bộ, nhất quán giữa các cơ quan chức năng ở trung ương và địa phương. Để kịp thời giải quyết vướng mắc khó khăn của doanh nghiệp, nên định kỳ hàng năm có các diễn đàn hoặc hội nghị để doanh nghiệp được trao đổi, chia sẻ và tiếp thu các giải pháp tháo gỡ những vấn đề phát sinh liên quan đến vấn đề này.

Thứ tư, theo khảo sát năm 2013 của Viện Quản lý Kinh tế Trung ương đối với 8000 doanh nghiệp trong lĩnh vực chế tạo, chế biến cho thấy, phần đông các doanh nghiệp có nhu cầu cải tiến, đổi mới công nghệ, sẵn sàng đầu tư để thực hiện. Tuy nhiên, do nguồn lực tài chính sẵn có còn hạn chế nên có nhu cầu vay vốn. Rào cản phát sinh đối với việc vay vốn của doanh nghiệp khi thực hiện các nội dung liên quan đến ứng dụng, đổi mới công nghệ là chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể đối với ngân hàng về việc vay vốn dựa trên tài sản trí tuệ hay tài sản công nghệ. Hiện hệ thống quy định hiện hành đối với việc cho vay dựa trên tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc…). Trên thực tế, việc áp dụng cho vay dựa trên bảo lãnh về công nghệ hay tài sản trí tuệ đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt Hàn Quốc đã hình thành Quỹ Bảo lãnh tín dụng công nghệ với hệ thống đánh giá, định giá tài sản trí tuệ để hỗ trợ các doanh nghiệp khi muốn tiếp cận vay vốn từ ngân hàng. Trên cơ sở đó, đề nghị trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần xem xét để có quy định bồ sung phù hợp trong quy trình xét duyệt vay vốn phục vụ cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp của các ngân hàng, có thể áp dụng thí điểm đối với Ngân hàng phát triển Việt Nam (Phong Lâm, nguồn: Báo cáo số 4019/BKHCN-UDCN của Bộ Khoa học và công nghệ).

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article