Mấy năm trở lại đây, ngành vật liệu xây dựng (VLXD) rơi vào tình trạng ế ẩm hơn bao giờ hết. Đặc biệt, do chủ trương cắt giảm đầu tư công của Chính phủ, các dự án bất động sản tạm dừng hoặc giãn tiến độ, kéo theo thị trường bất động sản gần như tê liệt. Nguồn lực của các doanh nghiệp bất động sản bị sụt giảm nghiêm trọng, hầu hết đều gặp khó khăn ở các cấp độ khác nhau, càng vay lớn nguy cơ vỡ nợ càng cao và có rất nhiều DN đứng trước nguy cơ phá sản hoặc “án binh bất động”.

Mấy năm trở lại đây, ngành vật liệu xây dựng (VLXD) rơi vào tình trạng ế ẩm hơn bao giờ hết. Đặc biệt, do chủ trương cắt giảm đầu tư công của Chính phủ, các dự án bất động sản tạm dừng hoặc giãn tiến độ, kéo theo thị trường bất động sản gần như tê liệt. Nguồn lực của các doanh nghiệp bất động sản bị sụt giảm nghiêm trọng, hầu hết đều gặp khó khăn ở các cấp độ khác nhau, càng vay lớn nguy cơ vỡ nợ càng cao và có rất nhiều DN đứng trước nguy cơ phá sản hoặc “án binh bất động”. Hệ quả là ngành VLXD - ngành liên quan trực tiếp đến thị trường bất động sản cũng bị ảnh hưởng nặng nề.

Từ năm 2011 đến nay nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng giảm đáng kể; cùng với đó, những khó khăn hiện hữu như giá cả nhiên liệu, điện, nguyên liệu đầu vào liên tục tăng, chi phí tài chính lên đến 20 – 30%, vốn lưu động thiếu... đã làm cho các doanh nghiệp vật liệu xây dựng phải giảm sản lượng hoặc dừng sản xuất, sản phẩm tồn kho khối lượng lớn, kinh doanh thua lỗ; nhiều doanh nghiệp có dấu hiệu phá sản. Cụ thể, từ đầu năm đến nay, thị trường tiêu thụ của các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đất sét nung bị giảm đáng kể từ 60% xuống còn 30-40% (theo báo cáo của Hiệp hội gốm sứ xây dựng Việt Nam). Tương tự, sản lượng sản xuất thép xây dựng năm 2011 cũng bị giảm so với năm 2010 (bằng 98,23% so với năm 2010). Cũng theo Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam, cộng với lượng tồn lũy kế từ năm 2011 đến nay, lượng clanhke, xi măng hiện còn tồn kho khoảng trên 3 triệu tấn (trên 3.000 tỷ đồng). Sản xuất và tiêu thụ giảm, nhưng ngược lại, năng lực sản xuất của toàn ngành (công suất thiết kế) lại tăng khoảng 10% so với năm 2011. Dự báo năm 2012 sẽ dư thừa khoảng 10 triệu tấn công suất.

Hiện nay, năng lực sản xuất của ngành vật liệu xây dựng (VLXD) nước ta đã vượt cao hơn so với nhu cầu tiêu dùng trong nước, thay vì phải nhập khẩu khá nhiều sản phẩm VLXD đáp ứng nhu cầu trong nước như trước đây, đến nay ngành công nghiệp sản xuất VLXD nước ta đã phát triển khá mạnh cả về quy mô lẫn sản lượng và chất lượng.

Trước năng lực thực tế và khó khăn hiện tại của ngành VLXD, nếu không có những giải pháp cụ thể để tìm đầu ra cho ngành này thì trong vài năm tới, lượng VLXD dư thừa sẽ rất lớn. Với quy mô và chất lượng sản phẩm VLXD, việc tìm hướng xuất khẩu cho ngành là giải pháp cần được thực hiện để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp ngành này.

Trong buổi hội thảo “Thị trường Trung Đông, Châu Phi – Tiềm năng và Cơ hội” tổ chức ngày 12/7/2012 tại Tp. Hồ Chí Minh, Bộ Xây dựng cho biết: năm 2011 kim ngạch xuất khẩu của ngành VLXD đã đạt ngưỡng 765,9 triệu USD, tăng hơn 86% so với năm 2010 (xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay). Trong đó, một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng cao như: gạch gốm xây dựng (tăng 70%), đá xây dựng (tăng 25%), thủy tinh, clanhke xi măng… cũng tăng với số liệu khả quan. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng cũng nhận định, mặc dù kim ngạch xuất khẩu VLXD cao nhưng việc xuất khẩu các sản phẩm VLXD của nước ta hiện chưa nhiều, chưa tướng xứng với tiềm năng của nó. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải xem xét lại để có hướng đi đúng.

Để tìm đầu ra cho sản phẩm VLXD, tại hội thảo nêu trên, Bộ Công thương cho biết: thị trường Trung Đông đang có nhu cầu lớn về VLXD để tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Tại các nước Trung Đông, sản xuất nội địa chỉ sản xuất các sản phẩm xi măng siêu nhẹ, còn các mặt hàng khác đa số phải nhập khẩu. Những điều này, đã mang lại cơ hội lớn cho các nhà cung cấp từ bên ngoài, trong đó có Việt Nam. Ngoài thị trường Trung Đông, châu Phi cũng là thị trường tiềm năng. Bởi châu Phi cũng có nhu cầu thị trường lớn, dễ tính, có tiềm lực kinh tế lớn do xuất khẩu dầu mỏ, khí đốt… Ngoài ra, châu Phi cũng có nhiều dự án lớn đang và sẽ được triển khai trong thời gian tới nên nhu cầu tiêu dùng VLXD là rất cao.

Như vậy, thị trường Trung Đông và châu Phi đang là thị trường tiềm năng đối với doanh nghiệp xuất khẩu VLXD. Tuy nhiên, để các doanh nghiệp VLXD có thể tiếp cận các thị trường này, các cơ quan liên quan cần tích cực hỗ trợ doanh nghiệp tìm hiểu thị trường, tìm hiểu kỹ các đối tác nhập khẩu để tránh rủi ro. Các cơ quan ngân hàng cần có chính sách hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp như: giãn nợ, khoanh nợ, cho vay lãi suất thấp….

Về phía doanh nghiệp, cần chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất để làm ra những sản phẩm có giá thành thấp, tăng sức cạnh tranh nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm để có thể xâm nhập và giữ vững thị trường xuất khẩu.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article