Đến 2015, dự báo sản lượng gạo của Việt Nam có thể đạt từ 44 đến 45 triệu tấn lúa và xuất khẩu 9 triệu tấn gạo. Tuy nhiên, Việt Nam đến nay vẫn chưa có một chiến lược xuất khẩu gạo, chất lượng gạo xuất khẩu vẫn còn thấp...

Theo thống kê, xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 1989 đến 2011 đạt 76,5 triệu tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt 21,5 tỉ USD. Hiện tại Việt Nam chiếm khoảng 22% lượng gạo xuất khẩu của thế giới. Nếu tính về tốc độ tăng sản lượng thì Việt Nam đang đứng đầu thế giới. Năm 2010 sản lượng lúa gạo đạt 40 triệu tấn trên 4 triệu ha và đã vượt xa Thái Lan (30 triệu tấn và 10 triệu ha).

Đến 2015, dự báo sản lượng gạo của Việt Nam có thể đạt từ 44 đến 45 triệu tấn lúa và xuất khẩu 9 triệu tấn gạo. Tuy nhiên, Việt Nam đến nay vẫn chưa có một chiến lược xuất khẩu gạo, chất lượng gạo xuất khẩu vẫn còn thấp... Kết thúc năm 2011, ngành lúa gạo Việt Nam đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc chiếm lĩnh thị trường gạo thế giới với sản lượng gạo xuất khẩu đạt trên 7 triệu tấn, đứng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Thái Lan (8,5 triệu tấn). Diện tích trồng lúa tại Việt Nam hiện ở mức khoảng 3,8 triệu ha với hai vụ chính. Tuy nhiên, giá trị thu về từ hạt gạo của Việt Nam còn thua xa Thái Lan và nhiều nước trong khu vực.

Tuy nhiên, bước sang năm 2012 ngành lúa gạo Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức hơn từ phía các thị trường. Vì vậy, các chuyên gia kinh tế cho rằng, nước ta cần nỗ lực thắt chặt mối liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và các học giả để đảm bảo Việt Nam có thể sản xuất - xuất khẩu và sinh lời từ loại gạo chất lượng cao, tạo nên thương hiệu quốc gia.

Ngành gạo Việt Nam nên đầu tư nhiều hơn cho phát triển lúa giống và tập trung vào một vài loại giống chất lượng cao; khuyến khích mở rộng quy mô ruộng lên khoảng 1000 - 2000 ha; trong đó, hoạt động canh tác – giống, phân bón,… được vận hành bởi các doanh nghiệp, chủ yếu thuộc sở hữu nhà nước và do các nông hộ triển khai hoạt động.

Về giá, gạo Việt Nam vốn cạnh tranh mạnh với Thái Lan và hiện nay cũng đang phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng tăng từ Ấn Độ, My-an-ma và Pakistan, đặc biệt là tại các thị trường Tây Phi hiện đang có dự trữ gạo lớn. Khoảng 23% kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam tới các thị trường châu Phi và ngành gạo Việt Nam dự đoán thị phần của nhóm thị trường này trong cơ cấu thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ giảm 3% do những người mua tại đây chuyển sang các nhà cung cấp chào giá rẻ hơn. Theo đó, Việt Nam tăng cường cần tạo thương hiệu gạo chất lượng cao, tập trung vào các phân khúc cao cấp của thị trường.

Lâu nay, ngành hàng lúa gạo chưa xác định được chiến lược marketing đúng nên vẫn buôn bán theo cách “ai mua thì bán” và “bán thứ mình có chứ không bán thứ thị trường cần”. Vì vậy, người dân trồng lúa bao đời nay vẫn còn nghèo. Trong khi đó đối thủ cạnh tranh của Việt Nam là Thái Lan có chiến lược rõ ràng, họ tập trung vào những loại sản phẩm theo xu thế thị trường.

Với một quốc gia có lợi thế lớn về sản xuất nông nghiệp, hiện Việt Nam đang được xem như là ứng viên tiềm năng nhất cho vị trí xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới; đặc biệt nhu cầu thế giới sử dụng gạo ngày càng gia tăng, trong khí đó Việt Nam lại chưa có Chiến lược về sản xuất, xuất khẩu mặt hàng truyền thống này.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn mới chỉ có Chiến lược an ninh lương thực tập trung vào đảm bảo cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ chứ chưa tính đến triển vọng xuất khẩu. Bộ Công Thương mặc dù đã có các đề án xuất khẩu các mặt hàng trọng điểm, nhưng các yếu tố về thị trường quốc tế, đối thủ cạnh tranh, năng lực của doanh nghiệp ngành lúa gạo lại chưa được xem xét một cách đầy đủ. Việc ban hành Chiến lược về sản xuất, xuất khẩu là cần thiết, là sự sống và sự phát triển bền vững của hàng triệu người nông dân, của nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam thời gian tới./.




 

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article