Chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu (TDĐT&TDXK) của Nhà nước quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ (thay thế Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/9/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước) đã được phổ biến rộng rãi đến các loại hình doanh nghiệp.

Chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu (TDĐT&TDXK) của Nhà nước quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ (thay thế Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/9/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước) đã được phổ biến rộng rãi đến các loại hình doanh nghiệp.

Việc thực hiện chính sách TDĐT&TDXK, đặc biệt là tín dụng đầu tư đã cung ứng một khối lượng vốn lớn cho các dự án đầu tư phát triển thuộc các lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, thông qua đó tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu; góp phần phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Nhờ nguồn vốn vay ưu đãi theo chính sách TDĐT&TDXK của Nhà nước, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới kỹ thuật công nghệ, tăng năng suất lao động, mở rộng hoạt động và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; qua đó không chỉ nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn tạo thêm nhiều việc làm, tăng đóng góp cho ngân sách nhà nước thông qua thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp, cải thiện môi trường sống, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên các địa bàn, đặc biệt là địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn.

Kể từ khi Nghị định số 151/2006/NĐ-CP và sau đó là Nghị định 75/2011/NĐ-CP nêu trên được triển khai thực hiện, số lượng doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tiếp cận được chương trình tín dụng này chưa nhiều.

Về tín dụng đầu tư : Báo cáo của Ngân hàng Phát triển (NHPT) cho biết: giai đoạn 2006-2011, chỉ có 437 dự án của hơn 300 DNNVV làm chủ đầu tư vay vốn tín dụng đầu tư tại NHPT, trong đó chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực: hạ tầng giao thông, cung cấp điện nước, công nghiệp điện tử, cơ khí, khai thác,…  Tổng số vốn đã ký theo Hợp đồng tín dụng cho 437 dự án nói trên gần 19.000 tỷ đồng. Như vậy, giai đoạn 2006-2012, chỉ có khoảng 72 dự án/năm được tiếp cận vốn vay tín dụng đầu tư với số vốn vay khoảng 43 tỷ đồng/dự án.

Về tín dụng xuất khẩu : NHPT đã cho vay đối với hầu hết các mặt hàng thuộc đối tượng khuyến khích xuất khẩu quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP nêu trên. Giai đoạn 2006-2011, tín dụng xuất khẩu tại NHPT mới hỗ trợ được 162 DNNVV với tổng doanh số cho vay gần 17.000 tỷ đồng để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu sang hơn 120 nước (trong đó chủ yếu là thị trường châu Âu và Mỹ) với các mặt hàng chủ lực là: thủy hải sản, thủ công mỹ nghệ, cà phê, dệt may, hạt tiêu, hạt điều, gạo,...Dư nợ bình quân tín dụng xuất khẩu cả giai đoạn đạt khoảng 15.000 tỷ đồng.

Sở dĩ các DNNVV khó tiếp cận được chương trình do đối tượng thụ hưởng các chính sách vay vốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu là các doanh nghiệp nói chung, không ưu tiên cho DNNVV. Theo quy định tại Nghị định 75/2011/NĐ-CP, các dự án được hưởng ưu đãi chủ yếu giới hạn thuộc nhóm A, B có quy mô vốn đầu tư lớn (hạn chế các dự án có quy mô nhỏ), trình độ công nghệ phức tạp và thường có tính liên ngành cao (chủ yếu thuộc các lĩnh vực: xây dựng hạ tầng giao thông, cung cấp điện, nước sạch sinh hoạt, công nghiệp cơ khí, vật liệu xây dựng, chế biến lâm, thủy sản, xử lý rác thải, nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu,...), do đó các DNNVV khó có đủ điều kiện để tiếp cận được nguồn vốn này.

Các DNNVV khó tiếp cận được các nguồn vốn tín dụng này vì một số lý do chính sau:

Về vốn chủ sở hữu : theo quy định hiện hành, chủ đầu tư phải có vốn chủ sở hữu tham gia tối thiểu 20% tổng mức đầu tư tài sản cố định: các DNNVV hiện nay hầu hết không đủ khả năng về vốn chủ sở hữu để tham gia đầu tư dự án quy mô nhóm A, B.

Về tài sản đảm bảo : do quy mô doanh nghiệp nhỏ nên khả năng đáp ứng các yêu cầu về tài sản đối với vốn vay bị hạn chế, làm giảm khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng để thực hiện các dự án quy mô lớn.

Về đồng tiền cho vay : theo quy định hiện hành, tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước chỉ hỗ trợ cho vay bằng đồng Việt Nam, do đó các chủ đầu tư, doanh nghiệp có nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ sau khi vay vốn tại NHPT phải thông qua NHTM để thực hiện mua/bán ngoại tệ trong thanh toán, gia tăng rủi ro tỷ giá đối với doanh nghiệp, hạn chế khả năng nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Bên cạnh những khó khăn nêu trên, những khó khăn về phía chủ quan của doanh nghiệp cũng làm hạn chế khả năng phát huy hiệu quả cao hơn của chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu, đó là:

Tính chủ động của các DNNVV chưa cao, một bộ phận DNNVV còn ý thức trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, xuất hiện tình trạng chây ỳ, cố tình chiếm dụng vốn của Nhà nước dẫn đến nợ quá hạn, hạn chế khả năng quay vòng vốn.

Tính tuân thủ của một bộ phận không nhỏ các DNNVV đối với yêu cầu của pháp luật chưa cao, đặc biệt là sự tuân thủ các quy định về báo cáo tài chính, kiểm toán, trình tự thủ tục đầu tư xây dựng,...dẫn đến hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của Nhà nước, hạn chế khả năng minh bạch và phát triển hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Năng lực nội tại của DNNVV chưa cao, thường khó đáp ứng yêu cầu quản lý đối với dự án đầu tư quy mô lớn, do đó hạn chế khả năng tiếp cận vốn TDĐT đối với một số ngành/lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực hạ tầng và công nghiệp.

Để DNNVV có khả năng tiếp cận nguồn vốn TDĐT&TDXK của Nhà nước, thời gian tới Chính phủ cần hoàn thiện chính sách TDĐT&TDXK theo hướng nâng cao tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của NHPT, tạo cơ chế hỗ trợ để huy động các nguồn vốn với chi phí thấp, nhằm tăng khả năng hỗ trợ DNNVV theo định hướng của Nhà nước. Bản thân các DNNVV cần tích cực nâng cao năng lực về vốn, kỹ năng quản lý, kỹ thuật – công nghệ,... để có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng của nhà nước khi được tiếp nhận nguồn vốn này.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article