Thực hiện nhiệm vụ nắm tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các hiệp hội doanh nghiệp, Cục Phát triển doanh nghiệp đã nhận được 36 báo cáo từ một số hiệp hội doanh nghiệp trên địa bàn cả nước. Tổng hợp các báo cáo cho thấy một số nét chính về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các tháng đầu năm 2012.

Thực hiện nhiệm vụ nắm tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các hiệp hội doanh nghiệp, Cục Phát triển doanh nghiệp đã nhận được 36 báo cáo từ một số hiệp hội doanh nghiệp trên địa bàn cả nước. Tổng hợp các báo cáo cho thấy một số nét chính về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các tháng đầu năm 2012 như sau:

Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp:

1. Các yếu tố tích cực

Theo các báo cáo từ 36 Hiệp hội, mặc dù hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam bị tác động bởi những bất ổn kinh tế vĩ mô, song nhiều doanh nghiệp vẫn cố gắng trụ vững, duy trì mức sản xuất như các năm trước và đạt lợi nhuận tốt.

Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày năm 2011 đạt 6,549 tỷ đô la, tăng 27,3% so với năm 2010 và dự kiến năm 2012 sẽ tăng khoảng 12%. Hiện nay, Việt Nam được công nhận là nước xuất khẩu giày lớn thứ hai trên thế giới, sau Trung Quốc và là nước sản xuất giày lớn thứ tư trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, việc làm và thu nhập của người lao động trong ngành được ổn định và cải thiện (thu nhập của người lao động bình quân cả nước đạt gần 4 triệu đồng/tháng, có những địa phương đạt 5 triệu đồng/tháng như ở TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai).

Dệt may tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam và duy trì được tốc độ tăng trưởng cao qua các năm. Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt khoảng 15,6 tỷ đô la, tăng gần 38% và đóng góp lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (chiếm 16,5%). Đối với ngành dược, báo cáo cho biết doanh thu của toàn ngành năm 2011 đã tăng 17,57% so với năm 2010 (doanh thu sản xuất tăng 15,42%).

Năm 2011, tuy phải đối mặt với hàng tồn kho lớn vào cuối năm nhưng các hầu hết các doanh nghiệp ngành bia vẫn có lợi nhuận, bảo toàn vốn. Các doanh nghiệp là thành viên của Hiệp hội công nghiệp kỹ thuật điện Việt Nam đều cố gắng duy trì và phát triển sản xuất, đảm bảo công việc và thu nhập của người lao động, nhiều doanh nghiệp giữ vững được nhịp độ phát triển gần như thời kỳ trước suy thoái kinh tế năm 2011.

Sự vượt khó của các doanh nghiệp cơ khí đáng được khích lệ bởi lợi nhuận của ngành không cao nhưng lại là cơ sở cho sự phát triển của ngành công nghiệp khác. Các đơn hàng xuất khẩu thiết bị của doanh nghiệp cơ khí (Lisemco, Lilama,…) đóng góp đáng kể trong thành tựu xuất khẩu trên 6 tỷ đô la năm 2011 của toàn ngành cơ khí. Các ngành sản xuất cơ khí chế tạo máy như sản xuất động cơ diezen, xe đạp, xe máy, cần trục,… cũng có được những đơn hàng lớn.

Trong thời gian qua, tuy ngành cao su gặp khá nhiều khó khăn - nhất là ảnh hưởng của động đất, sóng thần ở Nhật Bản làm ngưng trệ nhiều ngành công nghiệp tiêu thụ cao su - nhưng do những tháng đầu năm 2011 gặp thuận lợi nên các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu cao su đều tăng trưởng tốt. Toàn ngành xuất khẩu cao su thiên nhiên đạt 3,2 tỷ đô la.

Những kết quả sản xuất kinh doanh tốt trong năm 2011 là tiền đề và đồng thời là một trong những động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiếp tục phấn đấu sản xuất kinh doanh trong năm 2012. Đặc biệt là DNNVV, với đặc tính riêng của mình - bền bỉ, dẻo dai và linh hoạt - đã có sự thích nghi tốt với các điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay. Một số doanh nghiệp vẫn có kết quả sản xuất kinh doanh tốt, giải quyết nhiều công ăn việc làm và thực hiện tốt nghĩa vụ thuế. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý Nhà nước các cấp, các Hiệp hội doanh nghiệp luôn đồng hành cùng doanh nghiệp, có những biện pháp và chính sách tháo gỡ khó khăn trước mắt cho doanh nghiệp. Đó là những yếu tố tích cực để các doanh nghiệp tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh của mình.

2. Các khó khăn của doanh nghiệp

Bên cạnh các yếu tố tích cực đã phân tích ở trên và sự cố gắng của một bộ phận các doanh nghiệp vượt qua khó khăn, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung vẫn gặp nhiều khó khăn, thách thức, thể hiện qua các điểm cơ bản sau đây:

2.1. Thiếu vốn cho hoạt động sản xuất-kinh doanh

Khó khăn lớn nhất đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Khả năng tài chính của bản thân các doanh nghiệp vốn đã không cao, thêm vào đó, các doanh nghiệp rất khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng. Ngay cả khi đã tiếp cận được, thì lãi suất ngân hàng vẫn còn cao, thời hạn cho vay ngắn, nên doanh nghiệp khó quay vòng vốn để trả lãi ngân hàng, trả l ương lao động. Hiện nay lãi suất cho vay, tuy có được hỗ trợ và sau nhiều lần điều chỉnh, vẫn xoay quanh mức 13 - 14%/năm. Mức lãi suất này vẫn cao so với sức chịu đựng của doanh nghiệp.

Hiệp hội DNNVV Việt Nam cho biết: theo phản ánh từ 45 hội doanh nghiệp tỉnh, thành phố và các văn phòng đại diện tại phía Nam, Miền Trung và Tây Nguyên: năm 2011 chỉ có khoảng 30% các DNNVV vay được vốn từ các ngân hàng, 70% số DNNVV còn lại sử dụng vốn tự có  hoặc   vay   ngoài.   Quý I/2012, có trên 30% số doanh nghiệp vay vốn ngân hàng, trong đó có tới 76% phải vay ở mức lãi suất 18-19% trở lên. Hiệp hội Bông Sợi Việt Nam cũng cho rằng doanh thu của các doanh nghiệp trong ngành không đủ trả lãi ngân hàng.

2.2. Giá nguyên liệu biến động liên tục

Hầu hết giá nguyên liệu đầu vào của các ngành đều tăng trong khi giá bán sản phẩm không tăng. Một đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam là tỉ lệ nội địa hóa còn thấp, dẫn đến tình trạng nhập khẩu nguyên liệu cao và bị phụ thuộc vào những nguồn nhập khẩu này, kéo theo dung lượng sản xuất bị giảm sút. Ví dụ, các doanh nghiệp sản xuất dây và cáp điện, doanh nghiệp cơ khí điện bị giảm sản lượng do giá nhập nguyên liệu như đồng, nhôm, kẽm,… tăng mạnh; các doanh nghiệp ngành hàng điện tử cũng bị phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên phụ liệu, linh kiện nhập khẩu.

Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu trên thị trường quốc tế hiện nay về da giày, riêng ở thị trường EU, Việt Nam xếp thứ hai sau Trung Quốc, tuy nhiên tỷ lệ nội địa hóa của toàn ngành chưa đến 50%, có nhiều nguyên liệu chủ yếu phải nhập khẩu như da thuộc. Hầu hết các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam hiện đang thiếu nguồn nguyên liệu do phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài với giá cao kéo theo giá thành tăng, giảm khả năng cạnh tranh. Theo Hiệp hội Gốm sứ xây dựng Việt Nam, giá than tăng liên tục và trong 2 năm tăng lên gần gấp đôi. Ngoài ra, giá xăng, giá gas có nhiều biến động khôn lường.

Các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội Bông Sợi Việt Nam lại bị tác động mạnh bởi việc tăng, giảm giá nguyên liệu: đầu năm 2011, giá nguyên liệu chính của ngành (bông) tăng cao rồi đột ngột giảm 30% khiến nhiều doanh nghiệp thiệt hại khi mua bông giá cao và không thể bù đắp được thiệt hại này khi giá bông sau đó luôn duy trì ở mức thấp.

2.3. Kinh doanh kém hiệu quả, tồn kho lớn

Báo cáo từ các hiệp hội cho thấy, tồn kho lớn tập trung chủ yếu ở các ngành: bất động sản, vật liệu xây dựng, nông sản,… kéo theo tỷ trọng dư nợ tín dụng lớn. Chỉ số hàng tồn kho của một số mặt hàng như xi măng, sắt théo, vôi, phân bón,… tháng 1/2012 lên tới trên 50%. Các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội bất động sản Việt Nam phải đối mặt với các tình huống khó khăn: các khoản vay lớn của ngân hàng sắp đến hạn trả nhưng không có nguồn thu, không còn tài sản và khả năng huy động vốn để duy trì kinh doanh, tồn đọng hàng hóa nhiều (bất động sản, vật liệu xây dựng, hàng hóa nội thất…). Một số doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Rau quả Việt Nam phải chuyển đổi sản xuất do bị thua lỗ kéo dài.

Các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, hàng tồn kho tăng mạnh do thu nhập của đại bộ phận người dân giảm so với sự gia tăng về giá cả. Bên cạnh đó, chủ trương thu phí lưu hành xe ô tô cá nhân mới đây đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và tiêu thụ ô tô ở Việt Nam.

Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng cũng bị giảm sút đáng kể, tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp, các ngân hàng gặp khó khăn trong việc thu nợ (gốc và lãi), nợ xấu có xu hướng tăng cao. Trong khi đó, một số lĩnh vực cần ưu tiên cho vay như cho vay nông nghiệp, nông thôn lại không thực hiện được do phía khách hàng không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng  (theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam).

2.4. Đơn hàng ít, hoạt động cầm chừng, dưới công suất

Ngay từ trong năm 2011, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, sức tiêu thụ của thị trường giảm, số lượng đơn hàng của các doanh nghiệp giảm. Điều đó dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp chủ động thu hẹp sản xuất, tránh tình trạng đầu tư dàn trải.

Số đông DNNVV thuộc Hiệp hội DNNVV Việt Nam hoạt động cầm chừng, nhiều doanh nghiệp tạm ngừng, ngừng hoạt động, nhiều doanh nghiệp co hẹp quy mô sản xuất, chuyển giao một phần sở hữu để tồn tại: cuối năm 2011, khoảng 30% số doanh nghiệp hội viên của Hiệp hội hoạt động có hiệu quả, gần 40% hoạt động cầm chừng. Quý I/2012, ngành rượu-bia-nước giải khát sản xuất khó khăn, sức tiêu thụ giảm mạnh, tồn kho tăng, các doanh nghiệp chỉ sản xuất ở mức 30-40% công suất thiết bị (nhất là ngành bia).

Một số doanh nghiệp thép mới đầu tư xây dựng xong, chưa dám đi vào sản xuất, một số doanh nhiệp phải kéo dài thời gian đầu tư vì thiếu vốn.

Nhiều doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Điều Việt Nam sản xuất cầm chừng và không có ý định mở rộng sản xuất do không vay được vốn ngân hàng và không có thị trường, nhiều DN giải thể, đóng cửa.

Đối với các doanh nghiệp ngành dệt may: trong Quý I/2012, đơn hàng lớn giảm mạnh, đơn hàng nhỏ -ngắn hạn tăng, có doanh nghiệp chỉ có đơn hàng đến Quý II/2012, nhiều doanh nghiệp nhỏ bị cắt đột ngột đơn hàn do đối tác chuyển tới các nước có chi phí thấp và lợi thế ưu đãi đặc biệt như Campuchia, Lào, Bangladesh, EU.

2.5. Kim ngạch xuất khẩu giảm, thị trường bị thu hẹp

Hầu hết các thị trường truyền thống của doanh nghiệp Việt Nam bị thu hẹp dẫn đến kim ngạch xuất khẩu bị giảm sút. Những thị trường mới mở chủ yếu phục vụ các hợp đồng ngắn hạn, theo thời vụ, thiếu tính ổn định. Đáng lưu ý là trên 50% kim ngạch xuất khẩu của cả nước là từ các doanh nghiệp FDI. Riêng tháng 1/2012, các DN thuộc Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam bị giảm 13% kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ. Báo cáo của Hiệp hội Điều Việt Nam cho biết, thị trường xuất khẩu mặt hàng này ảm đạm suốt từ tháng 10/2011, giá xuất khẩu của toàn ngành năm 2012 có thể giảm 25% so với năm 2011, nhiều mã hàng giảm tới 40%; sản lượng xuất khẩu điều năm 2011 giảm gần 20% so với năm 2010. Giá xuất khẩu các mặt hàng chè của doanh nghiệp (Hiệp hội Chè Việt Nam) cũng bị giảm và khó tiêu thụ. Thị trường xuất khẩu bông sợi cũng bị giảm tại các thị trường chính như Trung Quốc (7%), Hàn Quốc (27%), Thổ Nhĩ Kỳ (50%). Cùng với đó, thị trường xuất khẩu hàng dệt may cũng bị giảm, có thị trường giảm mạnh như EU (20%). Một số ngành sản lượng xuất khẩu tăng nhưng giá thấp nên kim ngạch xuất khẩu khó đạt được như những năm trước (cao su).

2.6. Cạnh tranh lớn trên thị trường

Theo Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam, trong khi các doanh nghiệp phải đương đầu với những khó khăn chung như đã đề cập ở trên, vất vả duy trì thị trường trong nước thì các doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực tài chính dồi dào đã áp dụng nhiều hình thức tranh mua, tranh bán và dễ dàng chiếm ưu thế trong cuộc cạnh tranh này.

Không chỉ thị trường trong nước mà ngay cả thị trường nước ngoài cũng bị thu hẹp lại. Đối với thị trường trong nước, nhiều doanh nghiệp cắt giảm đầu tư, khách hàng cá nhân giảm bớt chi tiêu. Thị trường nước ngoài bị co hẹp do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Theo Hiệp hội Bông Sợi Việt Nam, thị trường vẫn đang bất ổn, biến động giá cả đầu vào nhưng đình trệ đầu ra, các thị trường tiêu thụ lớn như EU, Hoa Kỳ… vẫn không thấy dấu hiệu khả quan hơn.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong nước cũng gặp bất lợi do phải cạnh tranh với hàng nhập ngoại do doanh nghiệp nước ngoài được lợi thế về chi phí tài chính và hỗ trợ từ nước sở tại. Trong khi đó, Việt Nam chưa có hàng rào kỹ thuật hữu hiệu để bảo vệ hàng hóa trong nước.

3. Về nguồn nhân lực

- Đầu vào nhân lực rất hạn chế: các doanh nghiệp đều phải đối mặt với thực trạng thiếu đội ngũ nhân lực có kỹ thuật cao, thâm niên kinh nghiệm. H ơn nữa, tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhân lực không cao.

- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao: doanh nghiệp ngành gốm sứ xây dựng thiếu cán bộ kỹ thuật tại các cơ sở sản xuất, đặc biệt tại các nơi xa thành phố hoặc vùng đồng bằng. Đa số các giám đốc doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội DNNVV ngành nghề nông thôn Việt Nam làm việc theo tập quán và kinh nghiệm, thiếu lao động có chất lượng cao. Lực lượng công nhân lành nghề, đã qua đào tạo bị thiếu hụt, đặc biệt ở các ngành cơ khí.

- Chi phí nhân công ngày càng cao theo xu thế chung của thế giới, kéo theo chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng, trong khi lao động thủ công vẫn là chủ yếu (ngành gốm sứ, da giầy, dệt may,…).

4. Số lượng doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động tăng lên

Do ảnh hưởng của biến động kinh tế vĩ mô, các doanh nghiệp hội viên của các hiệp hội đều phản ánh gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất – kinh doanh. Báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh tại 16/24 quận, huyện thuộc Thành phố thì ước số lượng doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động tại TP.Hồ Chí Minh năm 2011 và Quý I/2012 đã lên đến trên 25.918 doanh nghiệp, vượt xa con số ước tính khoảng 10.000 doanh nghiệp trước đây của Hiệp hội. Hiệp hội DNNVV Việt Nam cho biết, cuối năm 2011, trên 30% số doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội phải dừng hoạt động;  Quý I/2012, khoảng 15% số doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội còn hoạt động tới cuối năm 2011 có thể giảm quy mô kinh doanh và 1% đóng cửa tạm ngừng kinh doanh. Tương tự, 30% doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam  giảm sản lượng sản xuất hoặc ngừng hoạt động tạm thời do không tiêu thụ được sản phẩm, thiếu vốn nhưng không thể vay được vốn, chỉ có 70% doanh nghiệp thành viên duy trì được tình trạng sản xuất như năm 2011.

Đáng chú ý phải kể đến tình trạng của các doanh nghiệp bất động sản. Với diễn biến của thị trường bất động sản như thời gian vừa qua, nguồn lực của các doanh nghiệp bất động sản bị sụt giảm nghiêm trọng, hầu hết đều gặp khó khăn ở các cấp độ khác nhau, càng vay lớn nguy cơ vỡ nợ càng cao và có rất nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản hoặc “án binh bất động”. Một số ngành nghề khác có liên quan đến thị trường bất động sản như xi măng, sắt thép, trang thiết bị nội thất… cũng bị ảnh hưởng nặng nề, kéo theo một lực lượng lao động không có việc làm. Điển hình, thị trường tiêu thụ của các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đất sét nung (thuộc Hiệp hội gốm sứ xây dựng Việt Nam) bị giảm đáng kể từ 60% xuống còn 30-40%. Tương tự, sản lượng sản xuất thép xây dựng năm 2011 cũng bị giảm so với năm 2010 (bằng 98,23% so với năm 2010).

Bên cạnh những khó khăn chung mà bất cứ doanh nghiệp ngành nào cũng gặp phải như đã nêu trên, các doanh nghiệp ở một số ngành hàng cụ thể còn cũng phải đối mặt với một số khó khăn sau:

5. Đối với nhóm ngành nông sản, cây công nghiệp

- Vùng nguyên liệu ngày càng thu hẹp, năng suất một số giống cây (điều…) giảm, thu nhập người trồng bấp bênh, ngành công nghiệp chế biến điều ngày càng phụ thuộc bên ngoài, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của một số nhà máy có vấn đề.

- Thuế bảo vệ môi trường áp dụng trên bao bì nhựa, kể cả bao ni-lon làm tăng giá thành sản phẩm.

6. Đối với nhóm ngành công nghiệp , cơ khí

Mức độ làm chủ công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp trong nước còn yếu, vẫn chủ yếu làm gia công, dẫn tới giá trị kinh tế thấp: ví dụ như công nghệ sản xuất túi xách vẫn chủ yếu nằm trong tay các doanh nghiệp FDI như Hàn Quốc, Đài Loan; các doanh nghiệp dệt may vẫn chủ yếu là làm gia công, chưa chủ động trong việc thiết kế sản phẩm, các doanh nghiệp sản xuất điện tử phải chuyển sang kinh doanh, kể cả các công ty máy tính thương hiệu Việt Nam cũng chủ yếu là lắp ráp, thay thế nhỏ.

- Phải đối mặt với tình trạng hàng giả, hàng lậu; gian lận thương mại: rượu lậu, rượu giả; pha trộn tạp chất vào mủ cao su,…

Lực lượng nghiên cứu, chuyên gia đầu ngành cho lĩnh vực cơ khí chế tạo còn thiếu. Chưa có các cơ sở công nghiệp có thiết bị công nghệ tiên tiến đủ khả năng thiết kế, chế tạo máy, thiết bị công nghệ cao đủ sức cạnh tranh với thị trường trong nước và quốc tế. Chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật để bảo vệ sản phẩm trong nước. Hàng cơ khí chất lượng thấp, giá rẻ tràn vào thị trường trong nước làm cho giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cơ khí trong nước phải cạnh tranh quyết liệt.

- Trong xây dựng và triển khai quy hoạch phát triển cụ thể 08 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm còn thiếu sự đôn đốc của Bộ quản lý ngành, quá trình thực hiện không bám sát quy hoạch (ví dụ: ngành ô tô), có những ngành hàng chưa có quy hoạch (thiết bị, máy canh tác nông nghiệp, máy công cụ, máy xây dựng,…).

- Về thuế suất đối với nguyên liệu nhập khẩu: việc áp mã tính thuế nhập khẩu một số nguyên liệu đầu vào chưa hợp lý dẫn đến thuế nhập khẩu cao, gây khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất (một số thiết bị của ngành cơ khí, ngành kỹ thuật điện; nguyên liệu đầu vào cho sản xuất sợi OE đang bị đánh thuế nhập khẩu 10%).

7. Đối với nhóm ngành dịch vụ, du lịch

 - Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay, thu nhập của khách hàng bị ảnh hưởng nên việc kinh doanh các ngành dịch vụ gặp khó khăn. Theo đánh giá của Hiệp hội Du lịch, khách hàng không sẵn lòng đi du lịch, hoặc tính toán chỉ đi những tour ngắn, chi phí ít, đối tác nước ngoài chậm thanh toán;

- Việc cấp giấy phép kinh doanh lữ hành còn quá dễ dàng và việc quản lý còn nhiều sơ hở bất cập dẫn đến nhiều doanh nghiệp mới ra đời có xu thế chạy theo cạnh tranh phá giá, hạ thấp chất lượng dịch vụ tạo hình ảnh xấu về du lịch Việt Nam, đặc biệt là trong con mắt của du khách quốc tế.

8. M ột số giải pháp tháo gỡ khó khăn

8.1. K iến nghị chung

- Tiếp tục hạ lãi suất cho vay và nới lỏng các điều kiện vay để doanh nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn vốn từ ngân hàng thương mại, đặc biệt là nguồn tín dụng dành cho nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp phụ trợ, DNNVV. Các ngân hàng thực hiện giãn nợ và tiếp tục cho vay để doanh nghiệp duy trì hoạt động và có khả năng trả nợ thay vì bị phá sản.

- Đẩy nhanh tiến độ thành lập Quỹ Phát triển DNNVV. Bên cạnh đó, cần thực hiện tích cực chủ trương của Chính phủ trong việc cho phép khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn ODA (Hiệp hội DNNVV Việt Nam, Hiệp hội ngành nghề nông thôn Việt Nam) để tạo thêm kênh vốn cho doanh nghiệp.

- Điều chỉnh và quản lý giá các sản phẩm đầu vào (xăng, điện, gas, than,…) để hạn chế tối đa sự biến động tới chi phí đầu vào của doanh nghiệp.

Thực hiện cắt giảm đầu tư công minh bạch, cụ thể, dân chủ, không gây đình đốn hoạt động và thiệt hại đối với doanh nghiệp.

Tăng cường hoạt động trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp.

Đẩy mạnh cải cách hành chính sâu rộng, trong đó chú trọng yếu tố con người.

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại: có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tự tham gia hội chợ, hỗ trợ các Hiệp hội tổ chức các đoàn giao thương tìm kiếm thị trường mới, giảm lệ thuộc vào Trung Quốc,….

Tăng cường tối đa việc sử dụng sản phẩm, nguyên, phụ liệu có sẵn ở trong nước.

8.2. Một số kiến nghị cho các ngành hàng cụ thể

- Đối với ngành bất động sản: Chính phủ cần thực thi các biện pháp cấp bách làm cho thị trường bất động sản khởi sắc để không chỉ phát triển ngành bất động sản mà còn kéo theo sự phát triển của một số ngành liên quan (vật liệu xây dựng,…).

- Đối với ngành hàng nông sản, cây công nghiệp: bên cạnh việc miễn, giảm, giãn thuế thu nhập doanh nghiệp, Chính phủ cần giảm tiền thuê đất, cân nhắc giảm thuế VAT cho một số ngành hàng (rau quả chế biến, chè).

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần đẩy mạnh quy hoạch nông nghiệp, trong đó có quy hoạch vùng nguyên liệu; phát triển các chương trình giống quốc gia nhằm tạo các loại giống mới (rau quả, điều) năng suất cao, thích hợp với biến đổi khí hậu. Đồng thời, hỗ trợ các nhà máy sản xuất theo hướng tập trung hiện đại.

- Đối với các dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn: đề nghị được vay vốn theo cơ chế tín chấp để doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay ngân hàng.

Phát triển công nghiệp phụ trợ trong các ngành dệt may, bao bì rau quả, ô tô xe máy, điện tử,… để từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng cho sản phẩm.

Giải quyết nhanh kiến nghị của doanh nghiệp về phí bảo vệ môi trường đánh vào túi ni-lon.

- Một số vấn đề liên quan đến cơ chế đấu thầu:

+ Các gói thầu về máy, thiết bị trong dây chuyền công nghệ của dự án cần ưu tiên cho các doanh nghiệp trong nước với các gói thầu về thiết bị phụ kết cấu thép.

+ Đối với các dự án công nghiệp (dự án đầu tư các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng, nhà máy giấy,…): doanh nghiệp nước ngoài tham gia thầu phải liên danh hoặc làm thầu phụ với nhà thầu trong nước.

+ Cần có cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp sản xuất điện tử được đấu thầu mua sắm các dự án Chính phủ.

Nhóm tác giả             

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article