Ngày 28 tháng 6 năm 2012, Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức Hội thảo “Thách thức kinh tế vĩ mô, khó khăn thanh khoản của nền kinh tế và giải pháp cho doanh nghiệp”.

Ngày 28 tháng 6 năm 2012, Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức Hội thảo “Thách thức kinh tế vĩ mô, khó khăn thanh khoản của nền kinh tế và giải pháp cho doanh nghiệp”.

Các báo cáo trình bày tại Hội thảo tập trung vào phân tích tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2012, thách thức kinh tế vĩ mô, khó khăn tài chính của doanh nghiệp, các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp… Tổng hợp các báo cáo như sau:

Bối cảnh kinh tế thế giới

Những tháng đầu năm 2012, nền kinh tế thế giới đang đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức. Sự phục hồi và tăng trưởng của các nền kinh tế chủ chốt trên thế giới diễn ra rất chậm chạp, thiếu bền vững, đang phát sinh nhiều vấn đề mới ảnh hưởng tới nền kinh tế toàn cầu. Kết quả thăm dò của một số tổ chức cho thấy bức tranh của nền kinh tế toàn cầu năm 2012 đang có chiều hướng u ám hơn (hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu ngày càng khó khăn, đà phục hồi không chắc chắn của kinh tế Mỹ, tốc độ phát triển chậm lại của nền kinh tế Trung Quốc. Bức tranh không mấy sáng sủa của nền kinh tế thế giới sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam và đến hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

Một số khó khăn thách thức của nền kinh tế Việt Nam

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế giảm hơn cùng kỳ và mức bình quân 2011, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu kế hoạch;

Thứ hai, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn (sản xuất thu hẹp; tỷ lệ thua lỗ, ngừng hoạt động, giải thể, phá sản ngày càng cao; chỉ số sản xuất và tiêu thụ của ngành công nghiệp tăng thấp, chỉ số tồn kho cao);

Thứ ba, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ở mức tăng trưởng thấp so với cùng kỳ;

Thứ tư, xuất nhập khẩu thay đổi lớn về thị phần với ưu thế vượt trội của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài;

Thứ năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 6 tháng đầu năm 2012 luôn ở mức tăng thấp so với tháng trước, trái với dự báo của nhiều chuyên gia kinh tế từ đầu năm;

Thứ sáu, hiệu quả đầu tư của nền kinh tế: khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực đầu tư nước ngoài FDI có hiệu quả thấp nhất;

Thứ bảy, tỷ giá biến động trong biên độ hẹp, cơ sở ổn định tỷ giá chưa bền vững và có nguy cơ gây suy giảm cho xuất khẩu trong thời gian tới;

Thứ tám, lãi suất cho vay có xu hướng giảm nhưng còn ở mức rất cao so với mức lợi nhuận bình quân thực tế của doanh nghiệp làm hạn chế “khả năng hấp thụ vốn tín dụng” của các doanh nghiệp và người vay;

Thứ chín, kênh huy động vốn qua thị trường chứng khoán sụt giảm và “khô cạn”, không “bơm” được vốn tới doanh nghiệp, gây áp lực lớn trên thị trường tiền tệ, ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách và kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, kế hoạch thoái vốn của các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Từ phân tích các khó khăn, thách thức nêu trên, báo cáo tại Hội thảo nêu lên các nút thắt mới của nền kinh tế trong năm 2012 như nghẽn mạch tín dụng, đóng băng thị trường bất động sản, hoạt động kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, gia tăng nhanh chóng nợ xấu của doanh nghiệp và ngân hàng thương mại.

Nhận định về tình trạng “nghẽn mạch tín dụng”, Báo cáo “Biến động tài chính vĩ mô, nghẽn mạch tín dụng và giải pháp cho doanh nghiệp” đưa ra quan điểm về sự “nghẽn mạch của hệ thống ngân hàng” như sau: Trong 5 tháng đầu năm, tiền gửi tăng 5,42%, tổng phương tiện thanh toán tăng 4,47% nhưng tín dụng vẫn âm (-0,8%). Đã xảy ra hiện tượng đảo nợ cho doanh nghiệp. Độ thẩm thấu tín dụng của các doanh nghiệp là rất thấp bên cạnh chính sách “khôn ngoan” của ngân hàng tránh rủi ro bằng cách tránh cho doanh nghiệp vay mới và dồn tiền vào mua trái phiếu chính phủ hay tín phiếu ngân hàng nhà nước. Báo cáo cũng nêu hiện tượng “nguồn vốn cạn kiệt cho khu vực tư lại đang chảy vào đầu tư công là khu kém hiệu quả nhất: dân gửi tiền tăng dù lãi suất xuống mạnh, ngân hàng thừa tiền nhưng không cho doanh nghiệp tư vay, tiền vào trái phiếu chính phủ do ngân sách huy động để tăng chi tiêu công bởi Chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước” và cho rằng vấn đề bội chi ngân sách nhảy vọt và tăng nợ công sẽ xảy ra trong phần còn lại của năm 2012. Báo cáo “Thanh khoản của nền kinh tế nhìn từ góc độ các doanh nghiệp niêm yết” nhận định hiện nay, tín dụng vẫn đóng băng do: i) tổng cầu sụt giảm mạnh, các doanh nghiệp chỉ hoạt động cầm chừng, không muốn vay vốn để đầu tư hay sản xuất kinh doanh; ii) doanh nghiệp muốn vay vốn nhưng không vay được do thiếu tài sản đảm bảo, tình trạng tài chính yếu, kế hoạch kinh doanh không khả thi, lãi suất cao hơn lợi nhuận của doanh nghiệp; iii) bản thân hệ thống ngân hàng không muốn cho vay hoặc cho vay nhưng với lãi suất cao do sự rủi ro nợ xấu tiếp tục tăng cao. Báo cáo dẫn số liệu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình: tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tính đến tháng 6/2012 đã lên đến 10%, tương đương với 80% vốn sở hữu toàn bộ hệ thống ngân hàng, ước tính khoảng 256.000 tỷ đồng.

Về đóng băng thị trường bất động sản, Báo cáo “Giải pháp cho nợ xấu ngân hàng trong khu vực bất động sản: cái nhìn từ doanh nghiệp” đã phân tích đặc điểm của thị trường bất động sản Việt Nam với hàng ngàn công ty kinh doanh bất động sản mới ra đời khi giá cả nhà đất bong bóng tăng mạnh từ cuối năm 2007. Trong số đó, nhiều công ty bổ sung chức năng kinh doanh bất động sản. Nhiều công ty, cá nhân dùng toàn bộ vốn vay cho kinh doanh bất động sản, kể cả một vài tập đoàn, tổng công ty nhà nước đầu tư trái ngành nghề và sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dự án bất động sản. Trong điều kiện kinh tế suy thoái, lãi suất ngân hàng cao ở mức 17%/năm (có lúc tới 20%/năm) kéo dài từ 2009 tới nay, phần lớn nợ bất động sản đã trở thành nợ xấu rất khó giải quyết. Kết quả tất yếu là thị trường bất động sản đóng băng, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đối mặt bờ vực phá sản. Đây cũng là nguyên nhân chính gây nên thực trạng gia tăng nhanh chóng nợ xấu của doanh nghiệp và ngân hàng thương mại.

Về hoạt động kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, Báo cáo “Tái cấu trúc và phát triển tập đoàn kinh tế: kinh nghiệm quốc tế và thực tế ở Việt Nam” dẫn nguồn Bộ Tài chính cho biết đến năm 2010, cả nước đã thực hiện sắp xếp được 5.846 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp nhà nước; trong đó cổ phần hóa 3.944 doanh nghiệp, chuyển đổi sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 261 doanh nghiệp và sáp nhập, hợp nhất, giao bán khoán 1.902 doanh nghiệp. Theo Báo cáo, đến tháng 9/2011, dư nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp nhà nước là 415.347 tỷ đồng, chiếm tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Đáng chú ý là dư nợ của chỉ riêng 12 tập đoàn kinh tế của nhà nước đã lên tới 218.738 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng và chiếm 52,66% dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước. Tổng số lỗ lũy kế của các tổng công ty, tập đoàn đến ngày 31/12/2011 là 26.110 tỷ đồng. Báo cáo dẫn nguồn Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp cho thấy: quy mô vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 540.701 tỷ đồng, tăng 11,75% so với năm 2009, trong khi đó, tổng lợi nhuận trước thuế là 70.778 tỷ đồng. Như vậy, chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu chỉ đạt khoảng 13,1%, thấp hơn nhiều so với lãi suất vay ngân hàng (80% tổng số lợi nhuận trước thuế đến từ 4 tập đoàn: dầu khí, viễn thông quân đội, bưu chính viễn thông và cao su). Hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước không cao hơn hẳn các doanh nghiệp khác, nhất là so với doanh nghiệp FDI trong một số chỉ tiêu. Báo cáo “Phân tích tình trạng nợ của các doanh nghiệp Nhà nước” dẫn nguồn từ Tổng cục Thống kê cho biết “để tạo ra 1 đồng doanh thu thì doanh nghiệp nhà nước cần sử dụng tới 2,2 đồng vốn trong khi con số bình quân của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ là 1,5 đồng vốn” (số liệu năm 2009).

Từ phân tích khó khăn, thách thức của nền kinh tế nêu trên, báo cáo tại Hội thảo đã đưa ra một số khuyến nghị giải pháp chính sách tháo gỡ khó khăn của nền kinh tế như sau:

1. Ưu tiên hỗ trợ khu vực sản xuất kinh doanh, tập trung vào khu vực kinh tế ngoài nhà nước:

Báo cáo “Thách thức kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế” tại Hội thảo cho rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay đang dựa vào 4 nguồn lực chủ yếu: chi tiêu công, xuất khẩu ròng, đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng cá nhân.

Trong 4 nguồn lực đó, nguồn vốn cho đầu tư công không thể tạo được sự tăng trưởng đột phá cho nền kinh tế và năng lực xuất khẩu của Việt Nam không trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế trung và dài hạn. Báo cáo nhấn mạnh: “trong nguồn lực thứ ba, chỉ có đầu tư của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước còn nhiều tiềm năng và trở thành “động lực phát triển mới” của nền kinh tế trong 6 tháng còn lại của năm 2012 và những năm tiếp theo” bên cạnh nguồn lực tiêu dùng nội địa.

2. Thực hiện một số giải pháp tăng tổng cầu như tăng tốc độ giải ngân đầu tư công và chi tiêu ngân sách; sửa đổi quy định về hạn chế cho vay tiêu dùng, nghiên cứu hỗ trợ thu mua lúa cho nông dân ở mức đảm bảo lãi hợp lý cho người sản xuất; có chính sách thuế (giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống dưới 20%, giảm thuế giá trị gia tăng xuống 7%...), tín dụng, bảo lãnh (cho doanh nghiệp ngoài nhà nước tiếp cận nguồn vốn trung, dài hạn như vốn ODA, từ các định chế tài chính như ADB, WB, IMF)

3. Bãi bỏ chính sách lãi suất trần, giảm lãi suất cho vay khu vực sản xuất kinh doanh

4. Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận tới tín dụng

5. Tạo lập thanh khoản và phục hồi thị trường bất động sản: tái cơ cấu các khoản nợ ngắn hạn thành vốn cổ phần, trái phiếu doanh nghiệp bất động sản, khuyến khích tín dụng mua nhà ở dài hạn.

6. Đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân hàng

7. Giải quyết nợ xấu của nền kinh tế

Để giải quyết nợ xấu của nền kinh tế, cần nhanh chóng hoàn thiện cơ chế pháp lý về mua bán nợ, thành lập công ty mua bán nợ với vốn nhà nước chiếm hơn 50%. Các ngân hàng phải tự xử lý nợ xấu của mình bằng cách trích lập dự phòng rủi ro, khoanh nợ, giãn nợ và bán nợ. Những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu không có khả năng tự xử lý thì phải sáp nhập, chuyển nhượng theo đề án tái cơ cấu ngân hàng thương mại.

Về giải pháp tháo gỡ khó khăn tài chính cho doanh nghiệp

Trong phạm vi Hội thảo, các báo cáo tập trung kiến nghị giải pháp tháo gỡ khó khăn về tài chính cho doanh nghiệp, trong đó nhấn mạnh gói giải pháp trị giá khoảng 29.000 tỷ đồng cứu trợ doanh nghiệp của Chính phủ, cụ thể như sau:

1. Giãn thuế khoảng 16.000 tỷ đồng (giãn thuế giá trị gia tăng khoảng 12.300 tỷ đồng cho 3 tháng và thuế doanh nghiệp khoảng 3.500 tỷ đồng cho 9 tháng);

2.Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế khoán đối với hộ, thuế môn bài ở mức khoảng 4.100 tỷ đồng;

3. Giảm 50% tiền thuê đất cho doanh nghiệp – khoảng 1.500 tỷ đồng;

4. Lùi thời hạn thu phí bảo trì đường bộ khoảng 3.000 – 3.200 tỷ đồng;

5. Các giải pháp chi tiêu công trị giá khoảng 2.670 tỷ đồng.

Các biện pháp bổ sung nhằm kích thích sức mua của người dân và các cơ chế hỗ trợ để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận được vốn vay ưu đãi gồm:

1. Kích thích sức mua bằng các biện pháp giảm thuế thu nhập cá nhân, trợ cấp an sinh xã hội, giảm hoặc không thu các khoản phí trong năm 2012, hỗ trợ người có thu nhập thấp;

2. Hỗ trợ nông dân (hỗ trợ  công nghệ, vốn, kết nối với nhà tiêu thụ sản phẩm);

3. Tiếp tục cải tổ hệ thống tài chính, ngân hàng, bỏ lãi suất trần, cung cấp thông tin dự báo về lãi suất, lạm phát;

4. Đơn giản hóa, lành mạnh hóa các biện pháp quản lý hành chính doanh nghiệp, từ việc thành lập cho đến quản lý doanh nghiệp, coi phá sản doanh nghiệp là một sự sang lọc sáng tạo để tạo ra một thế hệ doanh nghiệp mới có kỹ năng quản lý rủi ro và hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn./.

(Nguồn: Báo cáo Hội thảo khoa học “Thách thức kinh tế vĩ mô, khó khăn thanh khoản của nền kinh tế và giải pháp cho doanh nghiệp”, Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội, 28/6/2012).

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article