Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước đạt 255 227,26 tỷ đồng, tăng 3,35% so với năm 2011; trong đó nông nghiệp đạt 183 603,76,98 tỷ đồng, tăng 2,84%; lâm nghiệp đạt 8 305 tỷ đồng, tăng 6,35%; thuỷ sản đạt 63 318,5 tỷ đồng tăng 4,48%.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2012 gặp một số khó khăn do rét đậm, rét hại kéo dài ở các tỉnh phía Bắc, giá cả vật tư nông nghiệp tăng, giá bán sản phẩm chăn nuôi, thủy sản giảm... Tuy nhiên, sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản cũng có những thuận lợi cơ bản như thời tiết khá thuận lợi cho khai thác và nuôi trồng thủy sản, thị trường xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản ổn định,...Vì vậy, kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2012 đạt khá. Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước đạt 255 227,26 tỷ đồng, tăng 3,35% so với năm 2011; trong đó nông nghiệp đạt 183 603,76,98 tỷ đồng, tăng 2,84%; lâm nghiệp đạt 8 305 tỷ đồng, tăng 6,35%; thuỷ sản đạt 63 318,5 tỷ đồng tăng 4,48%.

Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 12 ước đạt 2,66 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản năm 2012 ước đạt 27,54 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước; Trong đó: giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 14,99 tỷ USD, tăng 10%; thuỷ sản ước đạt 6,15 tỷ USD, tăng 0,7%; lâm sản chính ước đạt 4,9 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông lâm sản chính có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, ngoại trừ mặt hàng gạo và cao su. Kết quả xuất nhập khẩu một số mặt hàng chính như sau:

Gạo : Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 12 ước đạt 603 ngàn tấn với trị giá 307 triệu USD. Như vậy, lượng gạo xuất khẩu năm 2012 dự kiến đạt 8,1 triệu tấn với giá trị 3,7 tỷ USD, tăng 13,9% về lượng và 2,1% về giá trị so cùng kỳ năm trước. Giá gạo tiếp tục có xu hướng giảm so với đầu năm. Giá gạo xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm đạt 457 USD/tấn, giảm 10,4%. Thị trường xuất khẩu gạo năm nay có nhiều thay đổi, trong đó thị trường Trung Quốc tăng mạnh gấp 6,4 lần về lượng và 5,4 lần về giá trị và trở thành thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong năm 2012. Ngược lại, nhiều thị trường lớn khác lại sụt giảm cả về lượng và giá trị như Inđônêsia, Singapore, Xenegal, và Philippines.

Cà phê : Tháng 12 xuất khẩu cà phê ước đạt 201 ngàn tấn, với giá trị đạt 402 triệu USD, nâng khối lượng cà phê xuất khẩu năm 2012 ước đạt 1,76 triệu tấn với giá trị 3,74 tỷ USD, tăng 40,3% về lượng và 36% về giá trị so cùng kỳ năm trước. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 11 tháng đầu năm đạt 2.137 USD/tấn, giảm 3,08% so với cùng kỳ năm trước. Hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ (12,03%) và Đức (chiếm 11,77% thị phần) và tăng trưởng khá cả về lượng và giá trị. Đáng chú ý nhất là thị trường Inđônêxia tăng trưởng đột biến với mức tăng gấp 5,6 lần về lượng và giá trị so với cùng kỳ năm 2011. Tuy nhiên, trong năm 2012 thị trường Bỉ - nước nhập khẩu cà phê lớn

nhất của Việt Nam trong năm 2011 có sự sụt giảm mạnh (chỉ bằng 66,4% về lượng và 60,7% về giá trị so với cùng kỳ năm trước).

Cao su : Ước xuất khẩu cao su tháng 12 đạt 117 ngàn tấn, giá trị đạt 304 triệu USD, đưa lượng cao su xuất khẩu năm 2012 lên 1,02 ngàn tấn, thu về 2,85 tỉ USD, tăng 25% về lượng nhưng giảm 11,7% về giá trị. Giá xuất khẩu trung bình 11 tháng đầu năm đạt 2.816 USD/tấn, giảm 31,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Khối lượng cao su xuất khẩu tăng tại một số thị trường lớn Malaixia (gấp 3,4 lần), Ấn Độ (gấp 3 lần), và Đài Loan (tăng 20%). Tuy nhiên, giá giảm liên tục từ đầu năm đến nay nên giá trị xuất khẩu cao su giảm so với cùng kỳ năm 2011.

Chè : Xuất khẩu chè tháng 12 ước đạt 14 ngàn tấn, với giá trị đạt 22 triệu USD.

Lượng chè xuất khẩu năm 2012 ước đạt 148 ngàn tấn, với kim ngạch 227 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 10,8% về lượng và 11,5% về giá trị. Giá bình quân 11 tháng đạt 1.526 USD/tấn, tăng 0,4% so với mức giá xuất khẩu của năm 2011 là 1.520 USD/tấn. Tình hình tiêu thụ chè khá khả quan, Pakixtan tiếp tục giữ vị trí thứ nhất với 19,8% thị phần. Sự tăng trưởng được thấy ở hầu hết các thị trường lớn ngoại trừ Nga và Đức.

Hạt điều : Ước tháng 12, xuất khẩu đạt 20 ngàn tấn với kim ngạch 126 triệu USD. Lượng điều xuất khẩu năm 2012 ước đạt 223 ngàn tấn, kim ngạch 1,483 tỷ USD, tăng 25,4% về lượng và 0,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2011. Việt Nam tiếp tục giữ vững là nước xuất khẩu hạt điều nhân đứng thứ 1 thế giới. Giá hạt điều xuất khẩu bình quân 11 tháng đạt 6.681 USD/tấn, giảm 19,6% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các thị trường tiêu thụ lớn đều có sự tăng trưởng khá mạnh về lượng và giá trị trừ Hà Lan giảm 11,1% về lượng và 20,1% về giá trị. Các thị trường tiêu thụ hạt điều lớn của Việt Nam vẫn là Hoa Kỳ (chiếm tỷ trọng giá trị 27,7%), Trung Quốc (19%), và Hà Lan (11,9%).

Tiêu : Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 12 dự kiến đạt 7 ngàn tấn, kim ngạch đạt 51 triệu USD. Khối lượng tiêu xuất khẩu năm 2012 dự kiến đạt 118 ngàn tấn với kim ngạch 802 triệu USD, giảm 4,3% về lượng nhưng tăng 9,6% về giá trị so cùng kỳ năm trước. Giá tiêu XK bình quân 11 tháng đạt 6.792 USD/tấn, tăng 15,8% so với năm trước. Các thị trường nhập khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam vẫn là Hoa Kỳ (chiếm 14,7% thị phần), Đức (10,1%) và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất (8,48%).

Gỗ và sản phẩm gỗ : Ước kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ trong tháng 12 đạt 477 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu của năm ước đạt gần 4,68 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các thị trường tiêu thụ lớn đều tăng trưởng mạnh như Hoa Kỳ (tăng 27%), Trung Quốc (11%), Nhật Bản (14,2%) so với cùng kỳ năm 2011.

Thuỷ sản : Ước giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 12 đạt 548 triệu USD, nâng tổng giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2012 ước đạt 6,15 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2011. Hoa Kỳ vẫn duy trì được vị trí là thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 19,49% thị phần, tiếp theo là Nhật Bản (17,87% thị phần) và Hàn Quốc (8,27%).

Về nhập khẩu: Giá trị nhập khẩu năm 2012 ước đạt 16,94 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, kết quả nhập khẩu một số mặt hàng như sau:

Phân bón : Ước tính khối lượng phân bón nhập khẩu các loại trong tháng 12 đạt

308 ngàn tấn với kim ngạch ước đạt 186 triệu USD, đưa lượng phân bón nhập khẩu các loại năm 2012 ước đạt 3,894 triệu tấn với giá trị nhập khẩu 1,72 tỷ USD, giảm 8,5% về khối lượng và 3,2 % về giá trị so với cùng kỳ năm trước.

Thuốc trừ sâu và nguyên liệu : Ước giá trị nhập khẩu tháng 12 đạt 78 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng này năm 2012 ước đạt 704 triệu USD, tăng 10% so cùng kỳ năm trước.

Gỗ và sản phẩm gỗ : Uớc giá trị nhập khẩu tháng 12 đạt 119 triệu USD, đưa tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2012 ước đạt 1.376 triệu USD, tăng 1,6% so cùng kỳ năm trước. Đây là mặt hàng nhập khẩu lớn của Việt Nam và có xu hướng ngày càng tăng.

Lúa mì: Ước khối lượng nhập khẩu lúa mì tháng 12 năm 2012 đạt 157 ngàn tấn,

với giá trị đạt 30 triệu USD, đưa kim ngạch nhập khẩu năm 2012 ước đạt khoảng 2,429 triệu tấn và 742 triệu USD về giá trị, so cùng kỳ năm 2011 tăng 0,3% về khối lượng nhưng lại giảm 8,5% về giá trị.

Cao su : Ước khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 12 đạt 28 ngàn tấn với giá trị đạt 78 triệu USD, đưa kinh ngạch xuất khẩu mặt hàng này năm 2012 ước đạt 302 ngàn tấn với giá trị 814 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2011, nhập khẩu cao su có xu hướng giảm, trong đó, về khối lượng giảm 16,6%; về giá trị giảm 13,7%.

Hàng Thủy sản : Ước giá trị nhập khẩu mặt hàng thủy sản trong tháng 12 mặt

hàng này đạt 54 triệu USD, đưa tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này năm 2012 lên 656 triệu USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm 2011.

Hạt điều : Khối lượng hạt điều nhập khẩu trong tháng 12 ước đạt 17 ngàn tấn với giá trị 48 triệu USD. Như vậy năm 2012, kim ngạch nhập khẩu hạt điều của Việt Nam đạt 328 ngàn tần về khối lượng và đạt 360 triệu USD về giá trị, giảm 6,9% về khối lượng và 36,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2011.

Bích Thủy

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article