Thư viện tư nhân là cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập trong lĩnh vực thư viện, do một hoặc một nhóm người thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự bảo đảm kinh phí hoạt động và hoạt động theo quy định của pháp luật.

Ngày 6/1/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2009/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động, quyền, nghĩa vụ của thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng, người đứng tên thành lập thư viện, chính sách của Nhà nước và quản lý nhà nước đối với thư viện tư nhân.

Thư viện tư nhân là cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập trong lĩnh vực thư viện, do một hoặc một nhóm người thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự bảo đảm kinh phí hoạt động và hoạt động theo quy định của pháp luật. Nhà nước khuyến khích việc thành lập thư viện tư nhân, coi trọng và đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm và dịch vụ của thư viện tư nhân. Thư viện tư nhân được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định tại Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Thư viện tư nhân được thành lập khi đáp ứng các điều kiện: có ít nhất 500 bản sách về một hay nhiều môn loại tri thức khoa học và 1 tên ấn phẩm định kỳ, có diện tích đủ cho ít nhất 10 chỗ ngồi đọc, không ảnh hưởng đến trật tự, an toàn giao thông; có đủ phương tiện phòng cháy chữa cháy và các trang thiết bị chuyên dùng ban đầu như giá, tủ để tài liệu. Người đứng tên thành lập thư viện phải có quốc tịch Việt Nam, đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi, am hiểu về sách báo và lĩnh vực thư viện. Hồ sơ đăng ký hoạt động thư viện tư nhân gồm: đơn (mẫu số 1 ban hành kèm Nghị định này), danh mục vốn tài liệu thư viện hiện có (mẫu số 2), sơ yếu lý lịch người đứng tên thành lập thư viện (có xác nhận của UBND cấp xã) nơi cư trú, nội quy thư viện. UBND cấp xã hoặc Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện hoặc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, hướng dẫn thủ tục đăng ký hoạt động thư viện. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thư viện (mẫu số 3), người đứng tên thành lập thư viện phải gắn biển hiệu và nội quy tại thư viện. Khi chia tách, sáp nhập thư viện, người đứng tên thành lập thư viện phải làm lại thủ tục đăng ký hoạt động thư viện. Khi giải thể hay thay đổi nội dung hoạt động đã đăng ký, họ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thư viện.

Việc thành lập thư viện của tổ chức Việt Nam thực hiện theo Pháp lệnh thư viện năm 2000. Việc thành lập thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài không vì mục địch lợi nhuận thực hiện theo quy định hiện hành về lập và hoạt động của các cơ sở văn hóa, giáo dục nước ngoài tại Việt Nam. Việc thành lập thư viện dưới hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp, dưới hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2005.

Nghị định được đăng Công báo ngày 22/1/2009, có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article