Ngày 3 tháng 010 năm 2012, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký Thông tư số 28/2012/TT-NHNN quy định về nghiệp vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; áp dụng đối với tổ chức tín dụng, cá nhân có liên quan đến nghiệp vụ bảo lãnh.

Ngày 3 tháng 010 năm 2012, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký Thông tư số 28/2012/TT-NHNN quy định về nghiệp vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; áp dụng đối với tổ chức tín dụng (ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã và công ty tài chính),chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương trong thời gian chưa chuyển đổi thành ngân hàng hợp tác xã thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh theo quy định đối với ngân hàng hợp tác xã, các tổ chức (bao gồm tổ chức tín dụng nước ngoài trong trường hợp đồng bảo lãnh), cá nhân có liên quan đến nghiệp vụ bảo lãnh.

Thông tư quy định cụ thể về phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh, quyền của bên bảo lãnh, quyền của bên xác nhận bảo lãnh, điều kiện đối với bên được bảo lãnh, bảo lãnh đối với tổ chức là người không cư trú, hồ sơ đề nghị bảo lãnh, hợp đồng cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh, thẩm quyền ký hợp đồng cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh, bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, phí bảo lãnh, thời hạn bảo lãnh, thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh, đồng bảo lãnh, hạch toán kế toán, thông tin báo cáo v.v…

Theo đó, bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí khác có liên quan đến khoản vay; nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị và các khoản chi phí thực hiện dự án hoặc phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh, hoặc dịch vụ đời sống; nghĩa vụ khi tham gia dự thầu; nghĩa vụ trong thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm, nhận và hoàn trả tiền ứng trước; nghĩa vụ thanh toán các khoản thuế, phí, các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước, các nghĩa vụ hợp pháp khá do các bên thỏa thuận.

Để được bảo lãnh, bên được bảo lãnh phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự; nghĩa vụ bảo lãnh và giao dịch phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh là hợp pháp và phải có khả năng thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ cam kết với các bên liên quan trong quan hệ bảo lãnh.

Để thực hiện bảo lãnh, bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và các bên liên quan (nếu có) phải thỏa thuận ký kết hợp đồng cấp bảo lãnh. Hợp đồng cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh của bên bảo lãnh phải do Người đại diện theo pháp luật hoặc Người quản lý rủi ro hoạt động bảo lãnh hoặc Người thẩm định khoản bảo lãnh ký kết. Nội dung chủ yếu của hợp đồng cấp bảo lãnh bao gồm:

a) Các quy định pháp luật áp dụng; b) Thông tin về các bên trong quan hệ bảo lãnh (bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh, các bên có liên quan khác (nếu có); c) Số tiền, đồng tiền bảo lãnh; d) Mục đích bảo lãnh; đ) Hình thức phát hành cam kết bảo lãnh; e) Điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; g) Biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, giá trị tài sản bảo đảm (nếu có); h) Quyền và nghĩa vụ của các bên; i) Phí bảo lãnh; k) Điều khoản miễn, giảm số tiền bảo lãnh (nếu có); l) Chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên; m) Cam kết về nhận nợ trả thay, lãi suất nhận nợ bắt buộc và hoàn trả nợ (trong trường hợp bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh); n) Giải quyết tranh chấp phát sinh; o) Số hiệu, ngày ký hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng; p) Các nội dung khác.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02/12/2012, thay thế Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế bảo lãnh ngân hàng. Các cam kết bảo lãnh ký trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện theo các thỏa thuận đã ký kết cho đến khi nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt. Việc sửa đổi, bổ sung các cam kết nêu trên chỉ được thực hiện nếu nội dung sửa đổi, bổ sung phù hợp với quy định tại Thông tư này.

Hồng Liên

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article