Luật Công chứng đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 (Luật số 82/2006/QH11).

Luật Công chứng đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 (Luật số 82/2006/QH11).

Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

Luật dành Chương III quy định về tổ chức hành nghề công chứng. Có 2 hình thức tổ chức hành nghề công chứng. Đó là Phòng công chứng (do Ủy ban Nhân dân cấp tình quyết định thành lập) và Văn phòng công chứng.  Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng. Người này phải là công chứng viên.  Tên gọi của Văn phòng công chứng do công chứng viên lựa chọn nhưng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng”, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, đạo đức và thuần phong mỹ tục cuả dân tộc. Hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng được gửi tới Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 20 ngày, UBND cấp tỉnh sẽ xem xét, quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng. Văn phòng công chứng phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định cho phép thành lập. Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động cho Văn phòng công chứng trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận các giấy tờ đăng ký. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động, nếu Văn phòng công chứng không hoạt động hoặc không hoạt động liên tục từ ba tháng trở lên thì Sở Tư pháp thu hồi giấy đăng ký hoạt động. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động, Văn phòng công chứng phải đăng báo trung ương hoặc báo địa phương nơi đăng ký hoạt động trong ba số liên tiếp các nội dung quy định tại Điều 30 Luật Công chứng.  Khi thay đổi trụ sở, tên gọi hoặc danh sách công chứng viên, Văn phòng công chứng phải có thông báo ngay bằng văn bản cho Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động. Khi thay đổi trụ sở, tên gọi, Văn phòng công chứng được cấp lại giấy đăng ký hoạt động.

Luật được đăng Công báo ngày 28/6/2007 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2007.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article