Luật chuyển giao công nghệ (Luật số 80/2006/QH11) đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006.

Luật chuyển giao công nghệ (L uật số 80/2006/QH11)  quy định về hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài, từ nước ngoài vào Việt nam; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ; thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước; biện pháp khuyến khích, thúc đẩy chuyển giao công nghệ.

Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ. Việc giao kết hợp đồng dịch vụ chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương văn bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định pháp luật. Nhà nước có chính sách thuế để thúc đẩy chuyển giao công nghệ như miễn thuế thu nhập cho tổ chức, cá nhân góp vốn bằng Bằng sáng chế, công nghệ; miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ (máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, phương tiện vận tải trong nước chưa sản xuất được, công nghệ trong nước chưa tạo ra được; tài liệu, sách báo khoa học); miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bốn năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong chín năm tiếp theo với điều kiện tổng giá trị miễn thuế không vượt quá tổng kinh phí đầu tư cho công nghệ v.v… Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao hoặc chuyển giao công nghệ ở địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn được hưởng ưu đãi theo điều 46 Luật này.

Luật đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, được đăng Công báo ngày 25/6/2007 và có hiệu lực thi hành từ 1/7/2007.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article