Luật Thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 (Luật số 04/2007/QH12) và được công bố bởi Lệnh số 13/2007/L-CTN ngày 5/12/2007.

Luật Thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 (Luật số 04/2007/QH12) và được công bố bởi Lệnh số 13/2007/L-CTN ngày 5/12/2007.

Luật gồm 4 chương, 35 điều: Những quy định chung; Căn cứ tính thuế đối với cá nhân cư trú; Căn cứ tính thuế đối với cá nhân không cư trú; Điều khoản thi hành.

Thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ đầu tư và chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, từ trúng thưởng, từ bản quyền, từ nhượng quyền thương mại, từ thừa kế quà tăng, từ kinh doanh là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Thu nhập từ kinh doanh bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ; thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật. Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan đế việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong kỳ tính thuế. Trường hợp nhiều người cùng tham gia kinh doanh trong một đăng ký kinh doanh thì thu nhập chịu thuế của mỗi người được xác định theo một trong các cách quy định tại Điều 11 của Luật. Cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu, tỷ lệ thu nhập chịu thuế đối với cá nhân kinh doanh chưa tuân thủ đúng chế độ hóa đơn, chứng từ dẫn đến không xác định được doanh thu. Mức thuế suất thấp nhất là 2% (thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản) và cao nhất là 30% (thu nhập tính thuế từ trên 624 triệu đồng đến 960 triệu đồng/năm).

Luật được đăng Công báo ngày 13/1/2008 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/9/2009.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article