Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 10 tháng đầu năm 2012, ngành thủy sản nước ta xuất khẩu ước đạt 5 tỷ USD (kế hoạch cả năm 6,5 tỷ USD). Trong đó, sản lượng khai thác ước tính đạt 2,223 triệu tấn, tăng 4% so với cùng kỳ; sản lượng khai thác biển ước đạt 2,076 triệu tấn, tăng 5% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 2,599 triệu tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2011

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 10 tháng đầu năm 2012, ngành thủy sản nước ta xuất khẩu ước đạt 5 tỷ USD (kế hoạch cả năm 6,5 tỷ USD). Trong đó, sản lượng khai thác ước tính đạt 2,223 triệu tấn, tăng 4% so với cùng kỳ; sản lượng khai thác biển ước đạt 2,076 triệu tấn, tăng 5% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 2,599 triệu tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2011. Xuất khẩu mặt hàng này được dự báo có xu hướng tăng trong những tháng cuối năm do nhu cầu tăng từ các nước nhập khẩu để phục vụ mùa Noel và đón năm mới 2013. Tuy nhiên, ngành thủy sản vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn do bị cảnh báo chất lượng tại thị trường EU, Nhật Bản, Mỹ... Ngoài ra, những rào cản thương mại về thuế tại thị trường EU, quy định sử dụng hóa chất Ethoxyquin ở Nhật Bản vẫn chưa được giải quyết… gây khó khăn cho doanh nghiệp (DN) khi xuất khẩu sang các nước này. Bên cạnh đó, các DN thủy sản thiếu vốn để mở rộng thị trường, dịch bệnh trên tôm nuôi vẫn xảy ra nhiều, ảnh hưởng tới nguồn nguyên liệu.  Riêng tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ đầu năm đến nay, hầu hết diện tích tôm nuôi đều bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh kéo dài; người nuôi trồng thủy sản phải treo ao. Theo đó, hơn 50% doanh nghiệp sản xuất tôm xuất khẩu đã ngừng hoạt động; 30% còn lại chết lâm sàng; 20% doanh nghiệp còn hoạt động cầm cự nhưng không hiệu quả. Việc ra khơi đánh bắt hải sản càng khó khăn do giá xăng dầu liên tục tăng cao, càng ra khơi càng lỗ.

Theo nhận định của các chuyên gia, đây là hậu quả của việc phát triển diện tích một cách ồ ạt không theo quy hoạch vùng cụ thể. Nông dân và nhà máy chế biến vẫn chưa theo quy trình sản xuất an toàn. Đồng thời, do chính sách tăng trưởng tín dụng quá nóng và sự dễ dãi của hệ thống ngân hàng thời gian trước đây, hàng loạt nhà máy chế biến thủy sản không đủ tiêu chuẩn nhưng vẫn được cấp phép xây dựng dẫn đến việc tranh mua, tranh bán, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất của ngành thủy sản. Hệ quả kéo theo là, ước tính cả nước đã có hơn 80% nhà máy ra đời do tăng trưởng tín dụng nóng đang đứng bên bờ phá sản; nợ Bảo hiểm xã hội, công nhân thiếu việc và nghỉ việc có hệ thống, sản xuất khó khăn, bếp bênh, giá trị xuất khẩu đạt thấp...

Dự báo các tháng cuối năm 2012 điều kiện thời tiết diễn biến bất thường và khó khăn nên ảnh hưởng đến việc đánh bắt và nuôi trồng, xuất khẩu có thể chững lại. Để tồn tại, nhiều doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài để bù đắp vào nguồn nguyên liệu bị thiếu hụt.

Theo Bộ Công Thương, mức tăng trưởng của ngành thủy sản năm 2012 chủ yếu tập trung vào Quý I, chậm lại vào Quý II và có biểu hiện suy giảm vào Quý III. Do vậy, rất khó đạt được mức 6,5 tỷ USD như kế hoạch năm 2012 nếu không có biện pháp tích cực hơn.

Theo phân tích của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá các mặt hàng thủy sản của nước ta giảm mạnh trong thời gian vừa qua chủ yếu tập trung ở các mặt hàng xuất khẩu, có giá cả phụ thuộc rất lớn vào giá cả của thị trường thế giới. Khi giá cả trên thị trường thế giới suy giảm đã kéo giá thủy sản nước ta giảm theo. Trong khi đó, sản xuất trong nước vẫn tiếp tục gia tăng về sản lượng, cộng thêm khó khăn của các doanh nghiệp thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm càng khiến cho giá các mặt hàng này bị suy giảm nhanh chóng.

Trước tình hình khó khăn trên, các doanh nghiệp thủy sản đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền cần kịp thời triển khai các giải pháp để kiện toàn lĩnh vực thủy sản. Trước tiên, Chính phủ cần ưu tiên hỗ trợ ngành thủy sản thông qua việc cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp; gia hạn nợ cho các doanh nghiệp đã vay nhưng chưa trả được và vẫn đảm bảo triển vọng trả nợ trong tương lai; tiếp tục thúc đẩy phát triển xuất khẩu.

Về lâu dài, cần nhanh chóng quy định về giá sàn. Theo đó, các doanh nghiệp khi xuất khẩu phải tuân theo giá sàn để nâng giá thu mua trong nước; quy hoạch lại vùng nuôi, nâng cao giá trị các mặt hàng thủy sản nhằm giúp nông dân đạt được lợi nhuận tối đa. Trong đó, nhà nước phải đóng vai trò giám sát nhằm hạn chế tình trạng các doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh như hiện nay.

Đặc biệt, các địa phương cần hướng người dân đến quy trình sản xuất theo mô hình VietGAP để không bị rào cản kỹ thuật từ những nước nhập khẩu; tăng cường đầu tư để vươn ra vùng biển lớn cho việc khai thác đánh bắt. Cần phải tổ chức lại quá trình đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu các mặt hàng thủy sản chủ lực; các Hiệp hội, tổ chức phải giữ vai trò chủ đạo; thúc đẩy việc xúc tiến tìm nguồn vốn ngoài ngân sách để vực dậy ngành thủy sản đang tăng trưởng chậm lại trong những tháng cuối năm 2012./.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article