Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chiếm trên 97% số doanh nghiệp cả n ước, DNNVV Việt Nam góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, thực tế DNNVV Việt Nam đang phải đối mặt với một số khó khăn.

  • Tình hình DNNVV và thực trạng công tác trợ giúp

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chiếm trên 97% số doanh nghiệp cả n ước, DNNVV Việt Nam góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, thực tế DNNVV Việt Nam đang phải đối mặt với một số khó khăn chính như sau:

+ Thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh: Khó khăn nhất đối với DN, đặc biệt là các DNNVV vẫn là thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Trong thời gian qua, lãi suất cho vay liên tục ở mức cao và trong thời gian dài, nên các DN khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Ngay cả khi tiếp cận được vốn vay, với lãi suất cao, thời gian vay vốn ngắn khiến các DN khó quay vòng vốn để trả lãi ngân hàng, trả lương cho người lao động. Theo báo cáo của Hiệp hội DNNVV Việt Nam, trong Quý I/2012, có trên 30% số DN vay vốn ngân hàng, trong đó có tới 76% phải vay ở mức lãi suất 18-19% trở lên.

+ Chí phí sản xuất tăng cao do biến động các yếu tố đầu vào: Hầu hết giá nguyên liệu đầu vào của các ngành đều tăng trong khi giá bán sản phẩm không tăng. Một số ngành có tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu, phụ kiện nhập khẩu (ví dụ, sản xuất dây và cáp điện, điện tử…) bị ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh, giá thành sản phẩm tăng do giá nhập nguyên liệu như đồng, nhôm, kẽm,… tăng mạnh.

+  Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, hàng tồn kho lớn: Trong năm 2011 và 2012, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, sức tiêu thụ của thị trường giảm sút, DN nghiệp có xu hướng chủ động thu hẹp sản xuất, hoạt động cầm chừng. Hàng tồn kho ở các DN trong một số ngành  tăng cao: chế biến và bảo quản rau quả tăng 123,2%; sản xuất các sản phẩm khác từ plastic tăng 89,1%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 62,8%, sản xuất xe có động cơ tăng 56,5%, sản xuất xi măng tăng 52,3%... 

+ Kim ngạch xuất khẩu giảm, thị trường bị thu hẹp: Hầu hết các thị trường truyền thống của DN Việt Nam bị thu hẹp, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu giảm. Trong khi đó, các thị trường mới ở chủ yếu phục vụ các hợp đồng ngắn hạn, theo thời vụ, thiếu tính ổn định. Thị trường xuất khẩu các mặt hàng như điều ảm đạm. Giá xuất khẩu toàn ngành này năm 2012 có thể giảm 25% so với năm 2011, nhiều mã hàng giảm tới 40%. Sản lượng điều thu hoạch năm 2012 chỉ đạt 264.810 tấn, thấp hơn năm trước tới gần 40.000 tấn. Xuất khẩu các mặt hàng như chè, bông sợi, gỗ,… cũng bị giảm và khó tiêu thụ.

Ngoài ra, DN trong nước cũng gặp nhiều bất lợi do cạnh tranh với DN nước ngoài được hưởng lợi về chi phí tài chính và hỗ trợ của nước sở tại. Trong khi đó, Việt Nam chưa có hàng rào kỹ thuật hữu hiệu để bảo vệ hàng hóa trong nước.

Chính phủ xác định vai trò quan trọng, lâu dài của DNNVV trong nền kinh tế và coi công tác xúc tiến, phát triển DNNVV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế quốc gia. Để giúp DNNVV vượt qua khó khăn, giữ vững hoạt động sản xuất kinh doanh, trong thời gian qua Chính phủ đã thực hiện một số giải pháp cụ thể như sau:

Hỗ trợ tài chính, tín dụng cho DNNVV

- Tín dụng ngân hàng cho DNNVV: Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các biện pháp điều chỉnh chính sách tiền tệ để kiểm soát hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng theo hướng tập trung phục vụ các nhu cầu vốn đối với các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn, DNNVV. Trong 6 tháng đầu năm 2012, nhìn chung tăng trưởng tín dụng thấp, đạt 0,76% so với cuối năm 2011. Riêng tín dụng dành cho DNNVV giảm mạnh, giảm tới 13,69%. Lãi suất huy động đã giảm 4 lần từ đầu năm 2012, hiện ở mức 9%/năm. Lãi suất cho vay giảm khoảng 3-6%/năm so với cuối năm 2011, trong đó tập trung chủ yếu đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, sản xuất-kinh doanh. Lãi suất cho vay phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, DNNVV, công nghiệp hỗ trợ ở mức 11-13%/năm, ở các lĩnh vực kinh doanh khác 14-17%/năm.

- Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV vay vốn tại NHTM [1] : Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) đã xem xét thẩm định, chấp thuận bảo lãnh và phát hành hơn 1.500 chứng thư bảo lãnh cho các doanh nghiệp (trong đó, gần 100% khách hàng là DNNVV) với giá trị bảo lãnh gần 11.000 tỷ đồng. Đến nay, các NHTM đã cấp vốn vay cho các doanh nghiệp với tổng số tiền gần 9.000 tỷ đồng.

- Về Quỹ bảo lãnh cho DNNVV tại các địa phương [2] : Tính đến nay, cả nước có 10 địa phương (Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Hà Giang, Yên Bái, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Ninh Thuận, Bình Thuận, Trà Vinh, Kiên Giang) thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng. Tuy nhiên, chỉ một số Quỹ hoạt động bước đầu hoạt động có hiệu quả nhất định như Tp. Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc... Tổng số vốn điều lệ của các Quỹ: 575 tỷ đồng (cao nhất là Tp. Hồ Chí Minh: 194,5 tỷ đồng; thấp nhất là Bắc Ninh: 21,9 tỷ đồng). Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, việc hỗ trợ giải quyết khó khăn về tài chính cho DNNVV thông qua mô hình này hiệu quả chưa cao, còn gặp nhiều khó khăn trong huy động các nguồn vốn cho Quỹ, vướng mắc trong thành lập, tổ chức và điều hành Quỹ…

- Về Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ : Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/5/2010 của Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng Quỹ Phát triển DNNVV và đã trình Thủ tướng Chính phủ.  Hiện nay, Bộ Kế hoach và Đầu tư tiếp tục hoàn thiện và bổ sung các nội dung liên quan theo yêu cầu của Văn phòng Chính phủ trước khi chính thức được phê duyệt.

- Về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu [3] : Đối tượng thụ hưởng là các doanh nghiệp nói chung, không ưu tiên cho DNNVV. Các doanh nghiệp vay vốn tại NHPT thuộc các ngành nghề, lĩnh vực: kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; nông nghiệp nông thôn; công nghiệp; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn,...; dự án cho vay theo Hiệp định Chính phủ, dự án đầu tư ra nước ngoài,... với quy mô chủ yếu là dự án nhóm A, B. Giai đoạn 2006-2011: chỉ có 437 dự án của hơn 300 DNNVV làm chủ đầu tư vay vốn tín dụng đầu tư tại NHPT, trong đó chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực: hạ tầng giao thông, cung cấp điện nước, công nghiệp điện tử, cơ khí, khai thác,…  Tổng số vốn đã ký theo hợp đồng tín dụng cho 437 dự án nói trên gần 19.000 tỷ đồng. Như vậy, giai đoạn 2006-2012, chỉ có khoảng 72 dự án/năm được tiếp cận vốn vay tín dụng đầu tư với số vốn vay khoảng 43 tỷ đồng/dự án. Về tín dụng xuất khẩu: NHPT mới hỗ trợ được 162 DNNVV với tổng doanh số cho vay gần 17.000 tỷ đồng để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu sang hơn 120 nước.

- Các chính sách khác: Chính sách tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại tại các vùng khó khăn (Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg); các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và các doanh nghiệp hoạt động tại khu vực nông thôn (Nghị định số 41/2010/NĐ-CP và 61/2010/NĐ-CP); tiếp cận vốn từ các quỹ chuyên ngành (Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ khuyến công, Quỹ khuyến nông, Quỹ Bảo vệ môi trường, Quỹ Phát triển khoa học công nghệ quốc gia,...). Ngoài ra, để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn do suy thoái kinh tế trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã có nhiều biện pháp hỗ trợ về lãi suất, miễn, giảm, giãn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và đã thu được một số kết quả đáng khích lệ.

H ỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNNVV

- Hỗ trợ DNNVV đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật:

Trong thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, sửa đổi, bổ sung và từng bước hoàn thiện khung pháp luật liên quan đến các lĩnh vực sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, ứng dụng và phát triển công nghệ và thực hiện một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ… nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong đó có DNNVV, cụ thể đang tổ chức triển khai thực hiện các chương trình:

Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (Chương trình 68) [4] : Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến nay, đã có 6 danh mục dự án được phê duyệt với tổng số 144 dự án; đã tổ chức 6 đợt tiếp nhận với tổng số 177 hồ sơ đăng ký chủ trì thực hiện dự án, 112 dự án được tuyển chọn thực hiện, trong đó 54 dự án đã kết thúc. Tổng kinh phí hỗ trợ từ Chương trình tính đến hết tháng 12/2011 là 74,705 tỷ đồng. Với sự hỗ trợ của Chương trình, đã có 53 đặc sản nổi tiếng của 42 địa phương trong cả nước đã và đang được hỗ trợ thiết lập, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ.

Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020 (Chương trình 712) [5] : Hiện Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai 02 dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt gồm Dự án “xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật” và Dự án “thúc đẩy hoạt động năng suất và chất lượng”.

Một số c hính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học công ng hệ : Bộ Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ bảo lãnh vay vốn cho 54 dự án sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng do 53 đơn vị thực hiện từ năm 2007 đến nay với tổng kinh phí bảo lãnh nguồn vốn vay khoảng 35 tỷ đồng. Hiện nay, thông qua Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia, các doanh nghiệp, tổ chức khoa học công nghệ được vay vốn với lãi suất ưu đãi để thực hiện các dự án ứng dụng kết quả nghiên cứu, đổi mới và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

Các chương trình khác: Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020,  Chương trình hỗ trợ thí điểm các DNNVV áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và các tiêu chuẩn quốc tế khác, Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020, Hỗ trợ kinh phí cho DN thực hiện đề tài nghiên cứu KH&CN,…

-  Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV:

Trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho DNNVV [6] : Năm 2011, ngân sách nhà nước hỗ trợ 20 tỷ đồng cho hoạt động trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các DNNVV. Các Bộ, ngành và tổ chức hiệp hội đã triển khai tổ chức được gần 200 khóa đào tạo về khởi sự doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp cho hơn 7.600 học viên với tổng kinh phí khoảng 13,5 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 8,3 tỷ đồng. Kinh phí Trung ương hỗ trợ cho hoạt động này năm 2012 là 65 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 10/2012, c khoảng trên 1000 khóa đào tạo với  khoảng 45000 học viên đã được đào tạo ở trên khắp cả nước.

Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực theo Chương trình khuyến công quốc gia : Hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề, nâng cao năng lực quản lý kinh doanh cho các cơ sở công nghiệp nông thôn cũng được chú trọng. Tổng kinh phí khuyến công quốc gia năm 2012 là 80 tỷ đồng và kinh phí khuyến công địa phương năm 2012 là 135 tỷ đồng.

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức pháp luật cho DNNV [7] : Chương trình 585 triển khai trên phạm vi toàn quốc, tập trung triển khai thí điểm tại 07 địa phương (Cần Thơ, Đắk Lắk, Đồng Nai, Quảng Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Hà Nội) và một số địa phương được lựa chọn. Năm 2011, Chương trình đã tổ chức được 32 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho gần 5.000 đại biểu gồm quản lý doanh nghiệp, cán bộ pháp chế doanh nghiệp và cán bộ thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên cả nước. Tính đến tháng 11/ 2012, hoạt động này đã mang lại những kết quả vượt trội so với năm 2011. Cụ thể: Chương trình đã triển khai được 36 lớp bồi dưỡng kiến phức pháp luật kinh doanh dành cho DN tại 10 tỉnh, thành phố; 24 lớp bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ pháp chế DN tại 14 tỉnh, thành phố; 9 lớp bồi dưỡng cho cán bộ thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho DN tại 4 tỉnh với tổng kinh phí thực hiện là 7,5 tỉ đồng.

Xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường  

- Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia [8] : Năm 2012 Chương trình đã tiếp tục hỗ trợ hàng nghìn lượt doanh nghiệp, trong việc duy trì quan hệ bạn hàng cũ và mở rộng quan hệ với nhiều đối tác mới, phát triển thị trường, quảng bá hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nội địa cũng như trên thị trường thế giới. Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia đã đạt được những kết quả thiết thực trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc khai thác, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; củng cố và phát triển thị trường trong nước; góp phần nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp.

- Hỗ trợ thông tin xúc tiến xuất khẩu: Bộ Công thương đang triển khai 2 hoạt động chính nhằm hỗ trợ DNNVV trong lĩnh vực thương mại điện tử gồm hoạt động hỗ trợ thông tin trong hoạt động xuất khẩu và đào tạo thương mại điện tử. Hoạt động hỗ trợ thông tin thị trường trong xuất khẩu được thực hiện thông qua 3 cổng thông tin gồm: Cổng thông tin Xuất khẩu Việt Nam (www.ttnn.com.vn), Cổng Thông tin xuất khẩu Việt Nam (www.vietnamexport.com) và Cổng thông tin Thương mại điện tử quốc gia (www.ecvn.com). Ba cổng thông tin này cung cấp cho doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV kênh thông tin thị trường chính thống và chuẩn xác.

- Hỗ trợ tiếp cận thông tin qua các trang web của hiệp hội ngành hàng và hỗ trợ thông tin thị trường cho hoạt động xuất khẩu thông qua 3 Cổng Thông tin: Cổng Thông tin Thị trường nước ngoài, Cổng Thông tin xuất khẩu Việt Nam, Cổng Thông tin Thương mại điện tử quốc gia. Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp thông qua: Cổng Thông tin Doanh nghiệp của Cục Phát triển doanh nghiệp (www.business.gov.vn), trang web của các Trung tâm Hỗ trợ DNNVV phía Bắc (www.hotrodoanhnghiep.gov.vn), miền Trung (www.tacdn.gov.vn) và phía Nam (www.unionb2b.com)...

Mặc dù đạt được một số kết quả đang ghi nhận trong quá trình triển khai thực hiện trợ giúp phát triển DNNVV, các cơ quan thực hiện đã gặp phải một số khó khăn, vướng mắc cần phải giải quyết để tiếp tục nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác này trong thời gian tới. Cụ thể:

- Các chính sách, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đã được ban hành tương đối đầy đủ, nhưng ít DNNVV tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước. Nguyên nhân là phần lớn các chính sách, chương trình hỗ trợ chỉ hướng vào đối tượng doanh nghiệp nói chung, không ưu tiên hoặc dành riêng hỗ trợ DNNVV (trừ chính sách bảo lãnh tín dụng cho DNNVV và bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại NHTM thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam xác định rõ đối tượng hưởng thụ trực tiếp là các DNNVV). Vì vậy, trên thực tế, chủ yếu là các doanh nghiệp lớn tiếp cận được các chính sách, chương trình hỗ trợ của Nhà nước (ví dụ, chính sách tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP). Bên cạnh đo, nhiều cơ chế, chính sách đã ban hành, nhưng chậm trễ hoặc gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức triển khai thực hiện (điển hình là giảm 50% tiền thuê đất cho năm 2011 và 2012 cho các tổ chức kinh tế đang hoạt động trong các ngành sản xuất, nhưng thực hiện thủ tục tại các địa phương nhiều phức tạp, chưa được quyết định giảm tiền thuê đất cho doanh nghiệp, đặc biệt tại các thành phố lớn; chưa cụ thể hóa chính sách ưu đãi đầu tư tại các địa bàn nông thôn theo quy định tại Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 của Chính phủ nên chưa có cơ sở triển khai thực hiện…), nên chưa hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế suy thoái vừa qua.

- Nguồn lực dành cho hỗ trợ DNNVV hạn chế, nhưng còn dàn trải, phân tán, thậm chí chồng chéo… Hầu hết các địa phương chưa chủ động bố trí ngân sách để hỗ trợ cho DNNVV, nếu có thì cũng rất hạn chế so với nhu cầu hỗ trợ cao từ phía cộng đồng DNNVV (chỉ mới 19% được bố trí ngân sách riêng thực hiện công tác hỗ trợ cho doanh nghiệp ) . Nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được ban hành nhưng kinh phí chưa bố trí kịp thời để triển khai thực hiện. Một số chính sách, chương trình hỗ trợ có nội dung chồng chéo, trùng lắp do nhiều Bộ cùng thực hiện hoặc nhiều chính sách, chương trình do cùng một Bộ thực hiện (ví dụ, chương trình hỗ trợ khoa học công nghệ, các chương trình đào tạo nguồn nhân lực...).

- Một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 22/NQ-CP, dẫn đến nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ chưa được triển  khai thực hiện. Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương còn chưa chặt chẽ và một số Bộ, ngành, địa phương chưa dành sự quan tâm đúng mức cho việc tổ chức thực hiện Kế hoạch Phát triển DNNVV 5 năm cũng như báo cáo tình hình thực hiện, các giải pháp đã được giao trong Chương trình hành động phát triển DNNVV.

- Hệ thống cơ quan trợ giúp phát triển DNNVV chưa được hình thành đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Ở cấp Trung ương, cơ quan đầu mối trợ giúp phát triển DNNVV chỉ mới tập trung vào công tác xây dựng các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển DNNVV, chưa có đủ điều kiện để đẩy mạnh việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách, các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV do nguồn nhân lực hạn chế, cơ sở vật chất yếu kém và nguồn kinh phí thực hiện các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV hạn hẹp, kể cả một số hoạt động chính như đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp phát triển DNNVV... Ở cấp địa phương, hệ thống các cơ quan đầu mối về trợ giúp phát triển DNNVV chưa hoàn thiện và còn yếu. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước của tỉnh, thành phố trong lĩnh vực phát triển DNNVV còn thiếu, năng lực hạn chế và phần lớn chưa được qua đào tạo, bồi dưỡng về công tác trợ giúp phát triển DNNVV. H iện cả nước mới chỉ có 20 tỉnh, thành phố thành lập đơn vị đầu mối có chức năng, nhiệm vụ về trợ giúp phát triển DNNVV ở địa phương. Phần lớn các đơn vị này được thành lập với mục đích triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp phát triển DNNVV nhưng hiện đang thực hiện nhiều chức năng, nhiệm vụ khác nhau như hỗ trợ đăng ký thành lập doanh nghiệp; xúc tiến, tư vấn đầu tư; hỗ trợ, tư vấn đấu thầu…  và được thành lập dưới mô hình tổ chức khác nhau như đơn vị cấp phòng (trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư) hoặc trung tâm (là đơn vị sự nghiệp công lập, trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc UBND cấp tỉnh). Vì vậy, kết quả việc triển khai các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV tại những địa phương này còn nhiều hạn chế.

2. G iải pháp trợ giúp phát triển DNNVV thời gian tới

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/5/2010 của Chính phủ và trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch Phát triển DNNVV 5 năm (giai đoạn 2006-2010), Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1231/QĐ-TTg ngày 07/9/2012 phê duyệt Kế hoạch Phát triển DNNVV giai đoạn 2011-2015.

Căn cứ vào Quyết định trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có văn hướng dẫn các cơ quan liên quan thực hiện nhiệm vụ được giao trong Chương trình hành động trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, năm 2012 và những năm tiếp theo, công tác trợ giúp giúp phát triển DNNVV cần tập trung vào một số định hướng chủ yếu sau:

(1) Tiếp tục hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định khung pháp lý, cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng cho DNNVV phát triển;

(2) Tạo bước đột phá để DNNVV tiếp cận vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay cho DNNVV

(3) Hỗ trợ tăng cường năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ; đẩy mạnh chuyển giao, đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, năng lực cạnh tranh của DNNVV. Đẩy nhanh việc triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ, phổ biến, ứng dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến tới các DNNVV, khuyến khích hợp tác và chia sẻ công nghệ giữa DNNVV với DN lớn, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Khuyến khích DNNVV tham gia các chương trình liên kết ngành, liên kết vùng và phát triển công nghiệp hỗ trợ;

(4) Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực có kỹ năng cho DNNVV. Chú trọng đào tạo nghề các ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ cao để chuyển dịch cơ cấu lao động từ thô sơ sang lao động có tay nghề trình độ, đáp ứng yêu cầu phát triển của DNNVV trong giai đoạn mới. Lồng nghép các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV trong đề án phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Khuyến khích doanh nghiệp thành lập hoặc liên kết với cơ sở dạy nghề trong đào tạo và giải quyết việc làm. Phát triển đồng bộ thị trường lao động; phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu về thị trường lao động, các hình thức thông tin thị trường lao động nhằm kết nối cung cầu lao động;

(5) Cải thiện tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất, tăng cường bảo vệ môi trường thông qua việc lập và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tạo điều kiện phát triển các khu cụm công nghiệp có quy mô hợp lý, có giá thuê phù hợp với khả năng của DNNVV; hỗ trợ di dời các DNNVV gây ô nhiễm, tác hại đến môi trường tại các khu dân cư và đô thị đến các khu cụm công nghiệp;

(6) Hình thành mạng lưới hệ thống thông tin hỗ trợ DNNVV để cung cấp thông tin về các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp, các chính sách, chương trình trợ giúp phát triển DNNVV và các thông tin khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

(7) Nâng cao hiệu quả điều phối thực hiện các hoạt động trợ giúp phát triển DNNVV, tăng cường vai trò của Hội đồng Khuyến khích Phát triển DNNVV; tăng cường năng lực cho các địa phương về quản lý, xúc tiến, phát triển DNNVV.

Để thực hiện trợ giúp phát triển DNNVV theo các định hướng nêu trên, 8 nhóm giải pháp cụ thể đã được đề xuất thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước:

(1) Hoàn thiện khung pháp lý về gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp;

(2) Hỗ trợ tiếp cận tài chính, tín dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DNNVV;

(3) Hỗ trợ đổi mới công nghệ và áp dụng công nghệ mới trong các DNNVV;

(4) Phát triển nguồn nhân lực cho các DNNVV, tập trung vào nâng cao năng lực quản trị cho các DNNVV;

(5) Đẩy mạnh hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai cho các DNNVV;

(6) Cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV và xúc tiến mở rộng thị trường cho DNNVV;

(7) Xây dựng hệ thống tổ chức trợ giúp phát triển DNNVV;

(8) Quản lý thực hiện Kế hoạch phát triển DNNVV.

Trong mỗi nhóm giải pháp nêu trên gồm có một số giải pháp cụ thể, có phân công cơ quan chủ trì, thời gian dự kiến thực hiện.

Nhằm đẩy mạnh hoạt động trợ giúp phát triển DNNVV trong thời gian tới (giai đoạn 2012-2013), đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng gặp nhiều khó khăn trong năm 2012 và dự kiến sẽ còn gặp nhiều khó khăn những năm tiếp theo, cần tập trung nghiên cứu và triển khai thực hiện một số nhóm giải pháp và phương thức hỗ trợ mang tính đột phá, mạnh mẽ hơn, cụ thể là:

- Thành lập Quỹ Phát triển DNNVV: Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và Nghị quyết số 22/NQ-CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần tiếp tục hoàn thiện và bổ sung các nội dung liên quan trình Thủ tướng Chính phủ. Mục đích của Quỹ là hỗ trợ tài chính cho các DNNVV có các dự án, phương án sản xuất-kinh doanh khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích của Nhà nước nhằm tăng thu nhập, tạo việc làm cho người lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần thực hiện một số mục tiêu chung của Nhà nước về phát triển DNNVV. Quỹ sẽ ủy thác cho các tổ chức tín dụng cho vay ưu đãi đối với các DNNVV có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích phát triển của Nhà nước.

- Đẩy mạnh triển khai thực hiện các chương trình đổi mới, ứng dụng công nghệ, chú trọng phát triển công nghệ cao nhằm tạo ra các sản phẩm mới, trang thiết bị, máy móc hiện đại, cụ thể: Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020...;

- Thí điểm xây dựng vườn ươm doanh nghiệp trong một số lĩnh vực ưu tiên, tập trung vào đổi mới sáng tạo, phát triển các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao, có tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường;

- Thí điểm xây dựng mô hình hỗ trợ toàn diện cho DNNVV trong một số lĩnh vực lựa chọn, bước đầu triển khai thí điểm tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh và nhân rộng mô hình thành công sang các địa phương khác; trong đó ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển, đầu tư đổi mới phát triển sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến;

- Thúc đẩy các liên kết kinh tế, cụm liên kết ngành: Hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai cho DNNVV thông qua đẩy nhanh việc hoàn thiện và phê duyệt Đề án phát triển cụm công nghiệp, khu công nghiệp gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ, tạo mạng lưới liên kết sản xuất và hình thành chuỗi giá trị.

Nguyển Thị Lan


[1] Theo quy định tại Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại NHTM

[2] Thành lập theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV

[3] Theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước (thay thế Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ)

[4] Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg ngày 04/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp và Quyết định số 2204/QĐ-TTg ngày 06/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2011-2015.

[5] Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020.

[6] Thông tư liên tịch số 05/2011/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 31/3/2011 hướng dẫn trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho DNNVV.

[7] Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và Quyết định số 585/2010/Đ-TTg ngày 05/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp (Chương trình 585).

[8] Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article