Ngày 20 tháng 11 năm 2012, Quốc hội đã thông qua Luật Hợp tác xã (Luật số 23/2012/QH13), quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế.

Ngày 20 tháng 11 năm 2012, Quốc hội đã thông qua Luật Hợp tác xã(Luật số 23/2012/QH13), quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế.

Luật gồm 9 chương, 64 điều khoản: Những quy định chung; Thành viên, hợp tác xã thành viên; Thành lập và đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Tổ chức quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Tài sản, tài chính của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Chia, tác, hợp nhất, sáp nhâp, giải thể, phá sản hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Tổ chức đại diện của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Điều khoản thi hành.

Hợp tác xã - được thành lập theo nguyên tắc tự nguyên của các thành viên - là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo Luật doanh nghiệp.

Các sáng lập viên hợp tác xã là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện cam kết sáng lập, tham gia thành lập hợp tác xã; tổ chức Hội nghị thành lập hợp tác xã. Hội nghị thảo luận về dự thảo điều lệ, phương án sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và dự kiến danh sách thành viên, hợp tác xã thành viên; thông qua Điều lệ Hợp tác xã (bao gồm 19 nội dung cơ bản). Trước khi hoạt động, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã dự định đặt trụ sở chính.

Hồ sơ đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bao gồm: Giấy đề nghị đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Điều lệ; Phương án sản xuất, kinh doanh; Danh sách thành viên, hợp tác xã thành viên; danh sách hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc), ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên; Nghị quyết hội nghị thành lập.

Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã: i) ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm; ii) hồ sơ đăng ký theo quy định nêu trên; iii) việc đặt tên của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tuân thủ quy định tại Điều 22 của Luật Hợp tác xã; iv) có trụ sở chính theo quy định. Trụ sở chính của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là địa điểm giao dịch của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên đường, phố, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có).

 Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Nhà nước có chính sách hỗ trợ về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường; ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới; tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã; tạo điều kiện tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội; thành lập mới hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Bên cạnh đó, Hợp tác xã còn được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật về thuế; lệ phí đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

Về cơ cấu tổ chức, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bao gồm đại hội thành viên, hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) và ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên. Đại hội thành viên có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Hội đồng quản trị hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là cơ quan quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã do hội nghị thành lập hoặc đại hội thành viên bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo thể thức bỏ phiếu kín. Hội đồng quản trị gồm chủ tịch và thành viên, số lượng thành viên hội đồng quản trị do điều lệ quy định nhưng tối thiểu là 03 người, tối đa là 15 người. Giám đốc (tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Ban kiểm soát, kiểm soát viên hoạt động độc lập, kiểm tra và giám sát hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của pháp luật và điều lệ.

Việc giải quyết phá sản đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.  Bộ Kế hoạch và Đầu tư giúp Chính phủ quản lý nhà nước về hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà tổ chức và hoạt động không trái với quy định của Luật này thì tiếp tục hoạt động và không phải đăng ký lại. Luật Hợp tác xã số 18/2003/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2013.

Hồng Liên

 

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article