Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Nhật Bản chiếm 99,7% (tương đương 4,21 triệu doanh nghiệp) tổng số doanh nghiệp của toàn nền kinh tế, sử dụng 70% lao động của cả nước (24,7 triệu lao động) và tạo ra hơn 50% giá trị gia tăng trong ngành sản xuất (56.000 tỷ yên, tương đương khoảng 721 tỷ USD). Nhật Bản coi DNNVV là xương sống của nền kinh tế. Ở Nhật Bản, tỷ lệ các DN mới thành lập và gia nhập thị trường có xu hướng tăng trong những năm gần đây, nhưng kể từ thập niên 80 trở lại đây, tỷ lệ DN giải thể, rút lui khỏi thị trường vẫn cao hơn tỷ lệ DN gia nhập thị trường.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Nhật Bản chiếm 99,7% (tương đương 4,21 triệu doanh nghiệp) tổng số doanh nghiệp của toàn nền kinh tế, sử dụng 70% lao động của cả nước (24,7 triệu lao động) và tạo ra hơn 50% giá trị gia tăng trong ngành sản xuất (56.000 tỷ yên, tương đương khoảng 721 tỷ USD). Nhật Bản coi DNNVV là xương sống của nền kinh tế. Ở Nhật Bản, tỷ lệ các DN mới thành lập và gia nhập thị trường có xu hướng tăng trong những năm gần đây, nhưng kể từ thập niên 80 trở lại đây, tỷ lệ DN giải thể, rút lui khỏi thị trường vẫn cao hơn tỷ lệ DN gia nhập thị trường.

Về hệ thống các cơ quan thực thi chính sách DNNVV ở Nhật Bản

Hệ thống các cơ quan hoạch định và thực hiện chính sách hỗ trợ DNNVV ở Nhật Bản rất hoàn thiện và có lịch sử hoạt động lâu đời, được thực hiện trên cơ sở phối hợp với nhau và cơ quan đầu mối chỉ đạo chung là Tổng cục doanh nghiệp vừa và nhỏ phối hợp.

Tổng cục DNNVV thuộc Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp được thành lập từ năm 1948 - là cơ quan Chính phủ thực thi toàn diện các chính sách về DNNVV của Chính phủ Nhật Bản. Nhật Bản có 9 vùng, ở mỗi vùng đều có Cơ quan đại diện của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp, Văn phòng của Cơ quan hỗ trợ DNNVV và đổi mới vùng của Nhật Bản (SMRJ) và Học viện DNNVV. Ở cấp địa phương, 47 địa phương trên toàn quốc đều có cơ quan hỗ trợ DNNVV và ở cấp quận, huyện cũng có các cơ quan hỗ trợ DNNVV.

Vai trò chủ yếu của các cơ quan:

1. Tổng cục Doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) Nhật Bản là cơ quan lập kế hoạch và xây dựng các biện pháp thực hiện chính sách doanh nghiệp vừa và nhỏ. Là cơ quan chỉ đạo thi hành chính sách doanh nghiệp vừa và nhỏ.

2. Cơ quan đại diện của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp

Đây là các đại diện chịu trách nhiệm thu thập và cung cấp thông tin, xem xét thực hiện chính sách doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mỗi vùng; Thi hành chính sách doanh nghiệp vừa và nhỏ ở cấp vùng; Điều chỉnh với các cơ quan có liên quan, v.v.

3. Cơ quan hỗ trợ DNNVV và đổi mới vùng của Nhật Bản (SMRJ)

SMRJ hiện có 9 cơ quan vùng trên toàn quốc và hơn 3000 chuyên gia tư vấn là đối tác (tư vấn thuế, tư vấn quản lý, luật sư,…).

SMRJ thực hiện tư vấn và hướng dẫn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tương trợ lẫn nhau (cho vay vốn khẩn cấp phòng chống phá sản dây chuyền). Tổ chức triển lãm tổng hợp. Bán tại khu công nghiệp, v.v.

4. Các cơ quan tài chính thuộc chính phủ (Quỹ tín dụng chính sách Nhật Bản), Hiệp hội Bảo lãnh Tín dụng

Cho vay vốn các loại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

5. Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO)

Hỗ trợ phát triển ra nước ngoài cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xúc tiến đầu tư vào Nhật Bản. Thu thập và cung cấp thông tin, v.v.

6. Học viện doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đào tạo cán bộ quản lý, nhân viên của doanh nghiệp vừa và nhỏ

7. Các tổ chức hỗ trợ DNNVV ở địa phương (Phòng Thương mại và Công nghiệp, các Trung tâm hỗ trợ DNNVV, các tổ chức nghiên cứu, v.v.).

Hỗ trợ điều hành quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ, tư vấn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; Hỗ trợ điều hành quản lý vừa và nhỏ (tư vấn, tổ chức hội thảo, điều phối dự án); Hỗ trợ kỹ thuật; v.v.

Các hoạt động hỗ trợ DNNVV của một số tổ chức vùng Kansai

Vùng Kansai bao gồm 6 tỉnh: Osaka, Kyoto, Hyogo, Shiga, Nara và Wakayama. Vùng Kansai có quy mô kinh tế gần bằng 20% quy mô kinh tế của cả Nhật Bản. Giá trị đóng góp vào GDP Nhật Bản của khu vực đạt khoảng 840 tỷ USD, tương đương với quy mô nền kinh tế Hàn Quốc. Nhiều thương hiệu nổi tiếng của Nhật Bản như Sharp, Sanyo, Panasonic, Honda, Hitachi,… khởi nguồn từ vùng này. Đây cũng là vùng tập trung các DNNVV ngành sản xuất chế tạo lớn nhất ở Nhật Bản. Quan hệ thương mại, đầu tư giữa vùng Kansai và Việt Nam cũng tương đối phát triển:

- Kim ngạch thương mại giữa vùng Kansai và Việt Nam có xu hướng tăng, chiếm khoảng 30% của cả nước (trong đó xuất khẩu chiếm 27,5%, nhập khẩu chiếm 22,7%). Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của vùng Kansai sang Việt Nam đạt mức kỷ lục cao nhất từ trước tới nay (210,3 tỷ yên, tương đương khoảng 2,7 tỷ USD).

- Hiện có hơn 100 doanh nghiệp vùng Kansai đầu tư sang Việt Nam, trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp ở Osaka (74 doanh nghiệp).

1. Cơ quan đại diện Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) vùng Kansai

Đây là cơ quan đại diện của Chính phủ theo dõi và thực thi về các chính sách hỗ trợ DNNVV ở vùng Kansai. Theo đó, ở từng thời kỳ, Nhật Bản xác định triết lý cơ bản về chính sách DNNVV theo yêu cầu thực tế để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ DNNVV, bao gồm chính sách về tài chính, chính sách về phát triển doanh nghiệp, chính sách hướng dẫn và tổ chức doanh nghiệp. Đặc biệt, kể từ sau thảm họa động đất và sóng thần năm 2011, Nhật Bản đã thực thi một số chính sách hỗ trợ quay vòng vốn của DNNVV như: bảo lãnh khẩn cấp khôi phục sau thảm họa động đất và sóng thần, cho vay đặc biệt khôi phục sau thảm họa động đất và sóng thần.

2. Cơ quan hỗ trợ DNNVV và đổi mới vùng của Nhật Bản (SMRJ) ở Kansai

Với vai trò là cơ quan thực thi toàn diện các chính sách về DNNVV của Chính phủ Nhật Bản, SMRJ vùng có nhiệm vụ phát triển DNNVV ở địa phương và làm giàu nền kinh tế địa phương. SMRJ triển khai hỗ trợ DNNVV một cách toàn diện, trực tiếp và hỗ trợ chuyên sâu trên cơ sở tận dụng các mạng lưới.

Các chương trình, chính sách hỗ trợ điển hình của SMRJ:

  1. Tư vấn kinh doanh miễn phí cho DNNVV: tư vấn quản lý, tư vấn về các vấn đề quốc tế hóa,…
  2. Cử chuyên gia trực tiếp hỗ trợ DN trong thời gian dài và liên tục (tối đa 6 tháng) nhằm xây dựng chiến lược điều hành quản lý, giải quyết các vấn đề phức tạp trong điều hành quản lý,…
  3. Vườn ươm doanh nghiệp và đất công nghiệp cho DNNVV: quản lý vận hành cơ sở cho thuê dành cho chủ DN, DN kinh doanh mạo hiểm, DN triển khai hoạt động kinh doanh sang lĩnh vực mới; cung cấp khu đất công nghiệp cho các DN. (Hiện nay SMRJ Kansai chỉ triển khai cho thuê các khu công nghiệp sẵn có, không phát triển thêm các khu công nghiệp mới).
  4. Hỗ trợ xúc tiến thị trường và kết nối DN: tổ chức hội chợ cho DNNVV (SME Expo), tổ chức nhiều sự kiện cho DNNVV tiếp cận thị trường; các chương trình kết nối DN nhỏ với DN lớn (chương trình n&N).
  5. Chương trình sử dụng nguồn tài nguyên địa phương: tài nguyên địa phương được xác định là những công nghệ liên quan đến việc sản xuất, khai thác các sản phẩm công nghiệp đặc trưng của địa phương, hoặc các di tích văn hóa đặc sản địa phương. Mỗi địa phương sẽ tìm ra một số ngành kinh tế và công nhận đó là “tài nguyên địa phương”, đó có thể là công nghệ sản xuất ra các đặc sản, hàng truyền thống, thủ công mỹ nghệ, tài nguyên nông – lâm – thủy sản, tài nguyên du lịch,… Trên cơ sở đó, SMRJ sẽ hỗ trợ các DN thuộc những ngành này phát triển kinh doanh thông qua việc tài trợ không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp.

Ví dụ điển hình: vùng Kansai là nơi sản sinh ra giống quýt quý, mỗi năm chỉ ra quả một mùa và thu hoạch trong vòng 1 tháng. Đây là giống quýt có hàm lượng vitamin rất cao. Để bảo tồn giống quýt đặc sản này và phát huy lợi thế của giống quýt đối với sức khỏe người dân, SMRJ đã hỗ trợ địa phương ứng dụng công nghệ sinh học và công nghệ mới để chiết xuất từ giống quýt này thành một loại đồ uống cung cấp cho thị trường tiêu dùng.

Một ví dụ khác: Công ty Okayama Kougei ở tỉnh Kyoto được thành lập năm 1968 với ngành nghề sản xuất áo Kimono truyền thống. Lúc mới thành lập, công ty chỉ là một DN thầu phụ với việc đi nhận đơn hàng sản xuất áo Kimono từ các DN khác. Các công đoạn sản xuất áo Kimono của công ty hoàn toàn bằng phương pháp thủ công và mất rất nhiều thời gian. Thời gian để hoàn thành một sản phẩm áo Kimono có khi kéo dài tới 2 tháng và trị giá của một bộ áo Kimono có thể lên tới 1 triệu yên.

Với kỹ thuật dệt vải Yuzen – được coi là nguồn tài nguyên địa phương, công ty đã nhận được hỗ trợ của METI (SMRJ triển khai) từ năm 2004 thông qua việc tài trợ không hoàn lại 2/3 tổng chi phí hoạt động của DN. Tổng cộng gói hỗ trợ từ năm 2004 đến nay là hơn 100 triệu Yên.

  1. Chương trình liên kết mới: phát triển lĩnh vực hoạt động kinh doanh mới bằng cách liên kết giữa các lĩnh vực khác nhau. SMRJ hỗ trợ nỗ lực của nhiều DNNVV có ưu thế về “quyết tâm thực hiện”, “công nghệ”, “sáng kiến” cùng đem “thế mạnh” của mình để phát triển sản phẩm mới, dịch vụ mới.
  2. Chương trình liên kết Nông – Công – Thương: Tạo hoạt động kinh doanh mới trên cơ sở kết hợp nông lâm ngư nghiệp với công thương nghiệp. Ví dụ, giống tỏi đen là một loại thuốc quý, SMRJ hỗ trợ các DN liên kết với người nông dân trồng tỏi đen để có nguồn cung cấp tỏi ổn định cho DN sản xuất thành thực phẩm chức năng.

 SMRJ Kansai triển khai các hoạt động hỗ trợ cụ thể nhằm giải quyết vấn đề của cộng đồng địa phương và các DNNVV trên địa bàn 6 tỉnh thuộc vùng Kansai.

3. Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư Nhật Bản (IBSC) thuộc Văn phòng Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) vùng Kansai

Đây là Trung tâm hỗ trợ các doanh nghiệp vùng Kansai đầu tư ra nước ngoài và các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Kansai. Các dịch vụ Trung tâm đang thực hiện bao gồm: cho thuê văn phòng tạm thời; cung cấp phòng hội thảo cho các doanh nghiệp gặp gỡ đối tác; cung cấp các dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp; thư viện tra cứu thông tin dành cho các doanh nghiệp;…

- Về cho thuê văn phòng: JETRO có 5 phòng làm việc để cho các doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào Kansai thuê tạm thời với thời gian tối đa 50 ngày, trong đó DN được cung cấp miễn phí các dịch vụ như internet, thiết bị văn phòng,…

- Về thư viện tra cứu thông tin: với khoảng 150.000 ấn phẩm liên quan đến kinh doanh quốc tế, các cá nhân, DN có thể đến và tra cứu các thông tin cần thiết phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, kinh doanh.

- Về dịch vụ tư vấn: JETRO cung cấp các dịch vụ tư vấn thành lập DN, tuyển dụng nhân sự, địa điểm về văn phòng và khu công nghiệp, thông tin về các ưu đãi và chính sách của Chính phủ và chính quyền địa phương,…

4. Phòng Thương mại và Công nghiệp tỉnh Osaka

Phòng Thương mại và Công nghiệp (TMCN) tỉnh Osaka được thành lập năm 1878, đây là Phòng TMCN lâu đời và lớn nhất ở miền Tây Nhật Bản. Hiện tại, Phòng TMCN Osaka đang triển khai các dự án chiến lược gồm: thành phố du lịch và giải trí (hỗ trợ các chương trình du lịch trong nước và nước ngoài), khoa học đời sống (hợp tác với các ngành công nghiệp, cơ quan nghiên cứu và chính phủ xây dựng các hoạt động kinh doanh mới phục vụ ngành dược và thiết bị/dụng cụ y tế), xuất khẩu cơ sở hạ tầng nước, nghiên cứu và phát triển môi trường/các ngành năng lượng mới, tìm kiếm thị trường mới ở nước ngoài.

Trung tâm Thương mại và Đầu tư Osaka (O-BIC) thuộc Phòng TMCN Osaka là một tổ chức phi lợi nhuận, được thành lập năm 2001 và chỉ có 3 chuyên viên chuyên trách được cử sang từ chính quyền tỉnh Osaka, chính quyền thành phố Osaka và Phòng TMCN tỉnh Osaka. O-BIC ký hợp đồng với khoảng 100 chuyên gia trong một số lĩnh vực để hỗ trợ miễn phí cho doanh nghiệp nước ngoài muốn thành lập doanh nghiệp ở Osaka. Từ năm 2001 đến nay, O-BIC đã hỗ trợ thành công 280 DN nước ngoài thành lập tại Osaka.

Gian hàng của O-BIC tại Osaka

Các dịch vụ hỗ trợ trên diện rộng của O-BIC gồm: hỗ trợ thủ tục đăng ký và thủ tục áp dụng cho hoạt động kinh doanh ở Osaka; cung cấp thông tin về thuê văn phòng, nhân lực và chuyên gia, các ưu đãi của chính quyền địa phương,…

Phòng TMCN Osaka cũng xây dựng một phòng Bảo tàng doanh nhân Osaka: đây là bảo tàng giới thiệu về thân thế, lịch sử của các doanh nhân nổi tiếng Osaka và trưng bày một số phát minh, sản phẩm nổi tiếng gắn liền với từng doanh nhân, ví dụ: chiếc máy giặt đầu tiên của hãng Sanyo, tivi đầu tiên của hãng Sharp,…

5. Trung tâm thông tin kinh doanh sản xuất Osaka (MOBIO)

Osaka là thành phố có số lượng nhà máy lớn nhất nước Nhật với 41.059 nhà máy. Giá trị sản phẩm xuất xưởng của các DNNVV Osaka là 11 nghìn tỷ yên, đứng thứ nhất toàn nước Nhật.  Xu hướng hiện nay của các DN sản xuất, chế tạo vừa và nhỏ ở Osaka là thành lập nhóm công ty; số lượng nhà máy sản xuất chế tạo giảm dần qua từng năm, đặc biệt là giảm các nhà máy có quy mô nhỏ;…

MOBIO là một cơ quan hỗ trợ DNNVV ngành sản xuất cua tỉnh Osaka, được thành lập năm 2009, cán bộ làm việc của MOBIO đến từ 3 cơ quan: chính quyền tỉnh Osaka, các cơ quan chức năng của tỉnh Osaka và các tổ chức tư nhân của tỉnh. Kinh phí hoạt động của Osaka do ngân sách chính quyền địa phương cấp. Ngân sách năm 2012 tỉnh Osaka cấp cho MOBIO gần 61 triệu yên, tương đương khoảng 786.000 USD. Các dịch vụ hỗ trợ của MOBIO gồm:

- Hỗ trợ ươm tạo DN: MOBIO có 10 phòng ươm tạo DN để hỗ trợ khởi nghiệp.

- Có 200 gian hàng cho DN thuê để trưng bày các công nghệ, sản phẩm của các công ty sản xuất, chế tạo.

- Dịch vụ tư vấn một cửa

- Dịch vụ kết nối kinh doanh: giới thiệu khách hàng trong hệ thống đăng ký kinh doanh; trung tâm B2B (giới thiệu khách hàng thông qua khách hàng của tổ chức tín dụng); hỗ trợ khai thác thị trường tiêu thụ theo hình thức đổi mới công nghệ cao, hợp tác song phương,…

- Hỗ trợ liên kết giữa DN – cơ quan chính quyền (Chính phủ, chính quyền địa phương) - Trường Đại học (chương trình SẢN – QUAN – HỌC)

- Chương trình giao lưu: tổ chức MOBIO-Café 1- 2 lần/tuần theo chủ đề nhất định.

6. Tổ chức hỗ trợ công nghiệp Kyoto 21 (KI21)

Tổ chức hỗ trợ công nghiệp Kyoto 21 là cơ quan hỗ trợ các DNNVV trong tỉnh Kyoto. KI21 được thành lập năm 2001 từ liên kết của 3 tổ chức: Công ty phát triển DNNVV, Trung tâm thông tin công nghiệp Kyoto, Tổ chức phát triển công nghiệp Kyoto. Cũng tương tự như MOBIO của Osaka, cán bộ của KI21 được cử từ 3 cơ quan: chính quyền tỉnh Kyoto, các cơ quan của tỉnh Kyoto và khu vực tư nhân.

KI21 cung cấp các dịch vụ hữu ích cho hoạt động của các DNNVV, bao gồm:

- Tư vấn tổng hợp (dịch vụ tư vấn một cửa)

- Hỗ trợ phát triển thị trường tiêu thụ (trung gian giao dịch): kết nối các DN chế tạo thông qua việc giới thiệu DN, đặt hàng cho các DN tìm kiếm khách hàng mới,...

-  Hỗ trợ phát triển hoạt động kinh doanh mới (liên kết SẢN – QUAN – HỌC, liên kết doanh nghiệp, bồi dưỡng phát triển ngành kinh doanh mới,…).

- Hỗ trợ đầu tư thiết bị (cho thuê và bán trả góp thiết bị): KI21 mua trang thiết bị, máy móc mà DN mong muốn từ các nhà sản xuất và bán trả góp hoặc cho DN thuê lại.

- Hỗ trợ phát triển công nghệ: Quỹ phát triển công nghệ hình thức liên kết DN, Quỹ hỗ trợ phát triển công nghệ hình thức liên kết SẢN – QUAN – HỌC.

7. Viện Nghiên cứu kỹ thuật công nghệ tỉnh Osaka

Viện được thành lập với mục đích khuyến khích và phát triển công nghiệp tỉnh Osaka. Viện là một pháp nhân hành chính độc lập của tỉnh Osaka. Tổng diện tích các khu văn phòng, khu chức năng và khuôn viên của Viện là 81.000 m2. Hiện nay, Viện có 148 nhân viên và 120 nghiên cứu viên. Kinh phí hoạt động của Viện phần lớn do tỉnh Osaka cấp, riêng năm 2012 tổng kinh phí hoạt động của Viên hơn 2,283 tỷ yên, trong đó 84% (khoảng 1,92 tỷ yên) từ ngân sách tỉnh. Các hoạt động của Viện gồm:

- Tư vấn kỹ thuật miễn phí

- Thí nghiệm theo yêu cầu: thực hiện các loại thí nghiệm, phân tích, đo đạc, gia công; đáp ứng riêng theo đơn đặt hàng đối với thí nghiệm theo yêu cầu. Tại đây, các máy móc phục vụ phân tích sản phẩm thông qua phân tích tia X, phân tích 3 chiều, phân tích thành phần, đặc tính kỹ thuật,… Các dịch vụ này cần phải đầu tư máy móc hiện đại, kinh phí lớn nhưng thu phí của DNNVV thấp nhằm hỗ trợ DNNVV. Đây là dịch vụ rất thiết thực nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, cũng như nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong nước.

- Mở cửa cơ sở, thiết bị: khách hàng có thể sử dụng thiết bị, máy móc để phân tích, đo đạc, chế tạo mẫu (cho thuê thiết bị); DN sử dụng văn phòng của Viện cho các buổi thực tập, trưng bày (cho thuê cơ sở); các cá nhân, DNNVV dự định phát triển sản phẩm, triển khai hoạt động kinh doanh mới có thể sử dụng dài hạn các phòng nghiên cứu mở.

- Thực hiện nghiên cứu ủy thác theo yêu cầu của DN

- Phổ biến thông tin kỹ thuật

- Đào tạo nhân lực: tập huấn kỹ thuật, tổ chức hội thảo, bài giảng kỹ thuật.

Viện Nghiên cứu kỹ thuật công nghệ tỉnh Osaka

Từ hoạt động của các tổ chức hỗ trợ DNNVV cấp quốc gia và cấp vùng ở Nhật  Bản có thể thấy rằng:

1. Hệ thống cơ quan thực thi chính sách hỗ trợ DNNVV ở Nhật Bản từ Trung ương tới địa phương rất hoàn thiện và ngân sách Nhà nước luôn dành một phần ưu tiên nhất định cho việc hỗ trợ DNNVV.

Tài chính cho các hoạt động hỗ trợ DNNVV chủ yếu từ ngân sách Trung ương (Bộ METI) và ngân sách địa phương. Riêng ngân sách Trung ương năm 2012-2013 dành cho hỗ trợ DNNVV là 180 tỷ yên, tương đương 45.000 tỷ đồng.

2. Hệ thống luật pháp liên quan đến DNNVV và hoạt động hỗ trợ DNNVV rất hoàn chỉnh

Bộ Luật cơ bản về DNNVV của Nhật Bản được ban hành từ năm 1963 với những chính sách nhằm phát triển DNNVV lúc đó do nhiều người Nhật Bản đứng ra khởi nghiệp, phục hồi Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Luật nhằm nâng cao năng suất cho DNNVV, cải thiện điều kiện giao dịch (bất bình đẳng với những doanh nghiệp lớn).

Đến năm 1999, Luật được sửa đổi với các chính sách hỗ trợ chia làm 3 loại chính: (i) hỗ trợ những DNNVV có tham vọng, (ii) củng cố nền tảng kinh doanh cho DNNVV: nhân lực, công nghệ, (iii) hỗ trợ DNNVV đối phó với thay đổi môi trường xã hội, môi trường kinh tế.

Ngoài ra, một loạt các bộ luật, luật liên quan đến DNNVV được hình thành: Luật hỗ trợ vốn đầu tư thiết bị cho DN quy mô nhỏ, Luật phát triển DNNVV thầu phụ, Luật xúc tiến hiện đại hóa DNNVV, Luật xúc tiến phát triển hoạt động kinh doanh mới, Luật thúc đẩy sử dụng tài nguyên địa phương của DNNVV, v.v.

3. Hình thức hỗ trợ DNNVV ở Nhật Bản thông qua mạng lưới liên kết là rất phổ biến

Liên kết hỗ trợ DNNVV dưới hình thức một cơ quan liên kết với nhiều cơ quan khác nhau để cùng hỗ trợ DNNVV như: chương trình Sản – Quan – Học, chính quyền tỉnh – các cơ quan chức năng của tỉnh – khu vực tư nhân, chính phủ - vùng – địa phương, …

Mặc dù ngân sách nhà nước dành một phần kinh phí rất lớn để hỗ trợ DNNVV nhưng để nâng cao hiệu quả các hoạt động hỗ trợ, Chính phủ Nhật Bản vẫn khuyến khích xu hướng liên kết để cùng hỗ trợ.

4. Dữ liệu về DNNVV ở 47 địa phương tương đối đồng bộ và được cập nhật để phục vụ cho quá trình phân tích hành vi của DN một cách vi mô và vĩ mô để có thể xây dựng chính sách phù hợp nhất với từng giai đoạn phát triển.

Bích Thủy - Hồng Liên

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article