Luật gồm 6 chương, 57 điều: Những quy định chung;  Tổ chức, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; Cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp và lập lý lịch tư pháp; Cấp phiếu lý lịch tư pháp; Xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về lý lịch tư pháp; Điều khoản thi hành.

Ngày 29/6/2009, Chủ tịch nước đã có Lệnh số 04/2009/L-CTN công bố .

Luật gồm 6 chương, 57 điều: Những quy định chung;  Tổ chức, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; Cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp và lập lý lịch tư pháp; Cấp phiếu lý lịch tư pháp; Xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về lý lịch tư pháp; Điều khoản thi hành.

Luật được đăng Công báo ngày 7/8/2009, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2010. Đối với thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã có trước ngày Luật này có hiệu lực thì Tòa án, Viện Kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ cung cấp cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp để phục vụ việc cấp Lý lịch tư pháp. Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc tổ chức thực hiện việc trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã có trước ngày Luật này có hiệu lực để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article