Quyết định sửa đổi 9 khoản trong Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn tại các ngân hàng thương mại. Đối tượng được Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh vay vốn là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (kể cả hợp tác xã) có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng hoặc sử dụng dưới 1.000 lao động.

Ngày 17/4/2009, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 60/2009/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn tại các ngân hàng thương mại.

Quyết định sửa đổi 9 khoản trong Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn tại các ngân hàng thương mại. Đối tượng được Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh vay vốn là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (kể cả hợp tác xã) có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng hoặc sử dụng dưới 1.000 lao động. Không bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn để thực hiện dự án, phương án sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực tư vấn, kinh doanh bất động sản (trừ các dự án xây dựng nhà ở bán cho người có thu nhập thấp, nhà cho công nhân và sinh viên thuê, xây dựng nghĩa trang), kinh doanh chứng khoán, vay vốn để thanh toán nợ vay của các hợp đồng tín dụng khác v.v…Quyết định bãi bỏ khoản 4 Điều 5 “Bên bảo lãnh có quyền phát mại tài sản thế chấp bảo đảm bảo lãnh để thu hồi số tiền đã trả nợ thay cho Bên được bảo lãnh”. Điều khoản về “không có nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế” được sửa đổi thành ”Không có nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng. Trường hợp doanh nghiệp có nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng nhưng có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh và cam kết trả được nợ quá hạn thì được Bên bảo lãnh thẩm định, quyết định bảo lãnh vay vốn theo Quy chế này”. Điều khoản về “Căn cứ đề nghị vay vốn của doanh nghiệp và văn bản thông báo chấp thuận bảo lãnh của Bên bảo lãnh, Bên nhận bảo lãnh xem xét và ký Hợp đồng tín dụng với doanh nghiệp” được sửa đổi như sau: “Căn cứ đề nghị vay vốn của doanh nghiệp và văn bản thông báo chấp thuận bảo lãnh của Bên bảo lãnh, Bên nhận bảo lãnh xem xét và ký hợp đồng tín dụng với doanh nghiệp. Bên nhận bảo lãnh không phải thẩm định lại các điều kiện quy định tại Điều 5 Quy chế này”.

Quyết định được đăng Công báo ngày 26/4/2009, có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article