Hàng hóa nhập khẩu từ nước Lào, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Thái Lan và Việt Nam được tự chứng nhận xuất xứ được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN đối với hàng hóa nhập khẩu.
Kể từ ngày 05 tháng 10 năm 2015, Thương nhân đã đăng ký tham gia chương trình thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa có quyền tự khai báo xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu trên hóa đơn thương mại thay vì thực hiện các thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo quy định tại Thông tư số 21/2010/TT-BCT ngày 17 tháng 5 năm 2010 thực hiện quy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN và Thông tư số 42/2014/TT-BCT ngày 18 tháng 11 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 21/2010/TT-BCT ngày 17 tháng 5 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN của Bộ Công thương.

Hàng hóa nhập khẩu từ các nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Cộng hòa Phi-líp-pin, Cộng hòa In-đô-nê-xi-a, Vương quốc Thái Lan và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tự chứng nhận xuất xứ được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN đối với hàng hóa nhập khẩu. Thủ tục nhập khẩu hàng hóa thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Thương nhân tham gia chương trình đã được Bộ Công thương cấp Văn bản chấp thuận tự khai xuất xứ hàng hóa phải bảo đảm:

1. Duy trì các điều kiện theo quy định tại Thông tư số 28/2015/TT-BCT ngày 20 tháng 8 năm 2015 của Bộ Công thương quy định việc thực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN trong suốt quá trình tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa; báo cáo Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương ngay khi có thay đổi về các điều kiện theo quy định của Thông tư này.

2. Cung cấp đầy đủ báo cáo, tài liệu liên quan và bố trí để Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương hoặc cơ quan được Bộ Công Thương ủy quyền đến kiểm tra các cơ sở sản xuất khi được Bộ Công Thương yêu cầu.

3. Lưu trữ các hồ sơ, báo cáo và tài liệu để chứng minh hàng hóa tự khai báo đáp ứng các tiêu chí xuất xứ theo quy định hiện hành và các chứng từ liên quan, trong thời gian ít nhất là 03 năm, kể từ ngày tự chứng nhận xuất xứ.

4. Chỉ được tự khai báo xuất xứ đối với hàng hóa do thương nhân sản xuất và có đầy đủ các chứng từ cần thiết chứng minh hàng hóa đáp ứng các tiêu chí xuất xứ tại thời điểm phát hành hóa đơn thương mại có nội dung khai báo xuất xứ.

5. Người đại diện hợp pháp của thương nhân hoặc người được ủy quyền ký tên trên hóa đơn thương mại có nội dung khai báo xuất xứ phải được đào tạo và được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ do đơn vị được Bộ Công thương chỉ định cấp.

6. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, xác thực đối với những khai báo liên quan đến việc đề nghị cấp Văn bản chấp thuận và nội dung tự chứng nhận xuất xứ trên hóa đơn thương mại có nội dung khai báo xuất xứ.

7. Định kỳ hàng tháng, trong tuần đầu tiên của tháng tiếp theo, gửi báo cáo về Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương các hóa đơn thương mại có nội dung khai báo xuất xứ đã phát hành cho hàng hóa xuất khẩu theo quy định tại Thông tư này (theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư này).

8. Báo cáo kịp thời cho Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương về những hóa đơn thương mại có nội dung khai báo xuất xứ bị nước nhập khẩu từ chối chấp nhận (nếu có).

Nước thành viên nhập khẩu có thể yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền của Nước thành viên xuất khẩu kiểm tra ngẫu nhiên và/hoặc khi có lý do nghi ngờ tính xác thực của các chứng từ hoặc tính chính xác của các thông tin liên quan đến xuất xứ thực sự của hàng hóa đang bị nghi ngờ hoặc các bộ phận của hàng hóa đó (hình thức kiểm tra sau). Trong một số trường hợp nhất định khi không thỏa mãn với kết quả kiểm tra theo hình thức kiểm tra sau, Nước thành viên nhập khẩu có thể đề nghị đi kiểm tra trực tiếp tại Nước thành viên xuất khẩu.

Trước khi tiến hành đi kiểm tra trực tiếp tại Nước thành viên xuất khẩu, Nước thành viên nhập khẩu phải gửi thông báo bằng văn bản về dự định đi kiểm tra trực tiếp tại Nước thành viên xuất khẩu tới thương nhân xuất khẩu dự kiến sẽ bị kiểm tra trực tiếp;  cơ quan có thẩm quyền của Nước thành viên sẽ bị kiểm tra trực tiếp; cơ quan Hải quan của Nước thành viên nơi sẽ bị kiểm tra trực tiếp; và Người nhập khẩu có hàng hóa cần phải kiểm tra.

Ngoài các nội dung khác, văn bản thông báo phải có tên của cơ quan Hải quan ra thông báo; tên của Thương nhân có nhà xưởng bị kiểm tra trực tiếp; ngày dự kiến đi kiểm tra trực tiếp; phạm vi đề nghị kiểm tra, bao gồm cả dẫn chiếu liên quan đến hàng hóa chịu sự kiểm tra; và tên, chức danh của cán bộ đi kiểm tra.

Nước thành viên nhập khẩu phải nhận được sự chấp thuận bằng văn bản của Thương nhân có nhà xưởng bị kiểm tra trực tiếp. Trường hợp không nhận được văn bản chấp thuận kiểm tra của Thương nhân trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được thông báo, Nước thành viên nhập khẩu có thể từ chối cho hưởng ưu đãi đối với hàng hóa cần phải chịu sự kiểm tra.

Nước thành viên tiến hành kiểm tra tại cơ sở phải cung cấp cho Thương nhân và Cơ quan có thẩm quyền có liên quan quyết định về việc kết luận hàng hóa được kiểm tra có đáp ứng tiêu chí xuất xứ hay không.

Việc tạm thời không cho hưởng ưu đãi thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu tự khai xuất xứ hàng hóa sẽ bị hủy bỏ sau khi có quyết định bằng văn bản cho thấy hàng hóa đó là hàng hóa có xuất xứ.

Thương nhân có quyền đưa ra giải thích bằng văn bản hoặc cung cấp thêm thông tin để chứng minh về xuất xứ của hàng hóa trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kết luận xuất xứ của hàng hóa. Nếu hàng hóa vẫn bị chứng minh là không có xuất xứ, quyết định cuối cùng sẽ được thông báo cho Cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được giải thích hoặc thông tin bổ sung của Thương nhân.

Quá trình kiểm tra, bao gồm việc đi kiểm tra thực tế và quyết định về hàng hóa nghi vấn liệu có đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ hay không, phải được thực hiện và thông báo kết quả cho Cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn tối đa là 180 ngày.

 

 

 

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article