Giai đoạn 2011-2015, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNNVV) tỉnh An Giang đã đóng góp khoảng 90% tổng nguồn thu ngân sách từ khối doanh nghiệp trên địa bàn.

Theo Báo cáo số 69/BC-SKHĐT của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh An Giang thì hiện nay, An Giang có hơn 2.950 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký khoảng 13.032 tỷ đồng.

Giai đoạn 2011-2015, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNNVV) tỉnh An Giang đã đóng góp khoảng 40% tổng thu ngân sách tỉnh (chiếm khoảng 90% tổng nguồn thu ngân sách từ khối doanh nghiệp trên địa bàn).

Số thu ngân sách từ DNNVV trên địa bàn tỉnh

STT

Năm

Số thu (triệu VND)

Tỷ lệ trên nguồn thu ngân sách tỉnh

1

2011

1.852.908

43,48%

2

2012

1.892.626

37,54%

3

2013

1.365.456

24,8%

4

2014

980.312

18,3%

Trong giai đoạn này, trên cơ sở các chính sách của Đảng và Nhà nước ban hành tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp, An Giang đã tiến hành hoàn thiện khung pháp lý cho DNNVV trên địa bàn tỉnh như ban hành Quyết định số 49/2011/QĐ-UBND ngày 25/10/2011 quy định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, Quyết định số 19/2012/QĐ-UBND ngày 31/7/2012 quy định mội dung và một số mức chi đặc thù cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, Quyết định số 1891/QĐ-UBND ngày 3/9/2013 ban hành Kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giai đoạn 2011-2013, Quyết định số 1022/QĐ-UBND ngày 02/7/2014 phê duyệt kinh phí hỗ trợ cho mô hình “thử nghiệm và hoàn thiện quy trình sản xuất gạch không nung”, Quyết định số 1593/QĐ-UBND về chính sách hỗ trợ thực hiện cơ chế đào tạo nghề theo đơn đặt hàng của các đơn vị sử dụng lao động.

Đồng thời, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đưa ra các gói vay cho DNNVV với lãi suất phù hợp. Quỹ Đầu tư phát triển và Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV đã tăng cường phối hợp với các ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận vốn vay trong điều kiện tài sản thế chấp còn hạn chế. Thực hiện 04 dự án vay thí điểm thực hiện chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn tỉnh. Tính đến hết năm 2014, các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đã giải ngân cho 4.340 dự án vay tổng số tiền là 12.170,158 tỷ đồng.

Sở Công thương đã tham mưu UBND tỉnh tổ chức đoàn công tác làm việc với đại diện doanh nghiệp để nắm bắt khó khăn, đề xuất giải pháp tháo gỡ để doanh nghiệp đạt được kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2014. Thực hiện Chương trình khuyến công hỗ trợ vốn đầu tư đổi mới máy móc cho cơ sở sản xuất nhỏ, làng nghề thủ công truyền thống, quảng bá sản phẩm nghề mộc, nghề dệt thổ cẩm tham gia hội chợ… Hai sản phẩm Bánh hạnh nhân (Cơ sở sản xuất bánh Tiến Anh, huyện Chợ mới) và Hệ thống và và đùa lúa trong lò sấy (Cơ sở cơ khí Hai Lâm, huyện Châu Phú) đã đạt giải sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp khu vực. Ngoài ra, Chương trình đã hỗ trợ Công ty TNHH Rượu Vĩnh Khang và Cơ sở sản xuất rượu Ngọc Hân xây dựng nhãn hiệu rượu của tỉnh; hỗ trợ 136 lượt doanh nghiệp tham gia trưng bày sản phẩm tại Hội chợ; tổ chức 01 lớp tập huấn “Nâng cao năng lực cho các cơ sở công nghiệp nông thôn năm 2014” tại huyện Chợ Mới; hỗ trợ thực hiện 10 mô hình kỹ thuật xây dựng nông thôn mới; hỗ trợ 106 trường hợp đổi mới máy móc thiết bị mở rộng nhà xưởng; trình UBND tỉnh ra quyết định công nhận 02 làng nghề tiểu thủ công nghiệp (Làng nghề đan giỏ nilon Tấn Mỹ, Làng nghề sản xuất và chế biến đường thốt nốt Châu Lăng),…

Thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”, tỉnh đã tổ chức 16 phiên chợ và 21 chuyến bán hàng lưu động, tổng doanh số bán hàng đạt 16,8 tỷ đồng. Đồng thời, tỉnh đã tổ chức 07 hoạt động giao thương kết nối doanh nghiệp của tỉnh với doanh nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh, Lào Cai, Đắk Lắk và Lâm Đồng.

Giai đoạn 2011-2015, tỉnh đã biên soạn, in ấn và cấp phát 28.801 tài liệu phục vụ công tác hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp, triển khai 05 lớp tập huấn nội dung hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (778 lượt người tham dự). Năm 2014 đã tổ chức 01 hội nghị triển khai văn bản quy phạm pháp luật mới với 217 lượt người tham dự….

UBND tỉnh đã ban hành chương trình bảo vệ tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2014-2020, thực hiện Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm đầu kỳ 2011-2015, Dự án Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa (chọn 15 doanh nghiệp tham gia cải tiến năng suát, hỗ trợ 13 cơ sở sản xuất khô cá, mắm được công bó phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật địa phương…).

Ngoài những mặt được trong công tác phát triển doanh nghiệp, UBND tỉnh An Giang đã nêu những mặt còn hạn chế, khó khăn:

- Phần lớn doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với quy mô nhỏ, cơ sở vật chất còn thiếu, sức cạnh tranh thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp so với bình quân cả nước, trình độ quản lý doanh nghiệp còn hạn chế, chưa chủ động xây dựng chiến lược lâu dài,… ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường và giải ngân của ngân hàng đối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp chưa tạo được niềm tin đối với ngân hàng. Tuy lãi suất cho vay đã giảm nhưng một số doanh nghiệp vẫn không tiếp cận được vốn ngân hàng do không đáp ứng được các điều kiện vay. Một số doanh nghiệp lập báo cáo tài chính chưa phản ánh đúng thực tế tình hình kinh doanh nên ảnh hưởng đến việc thẩm định cho vay của ngân hàng.

- Sự biến động của ngành cá năm 2012 đã ảnh hưởng đến xuất khẩu 2 mặt hàng chủ lực của tỉnh là gạo và cá tra. Biến động này đã khiến cho một số doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu kinh tế chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thủy sản và thức ăn thủy sản phải tạm ngưng hoạt động cho tới nay.

- Thị trường nguyên liệu của địa phương chưa phong phú, đa dạng; quy mô, sản lượng nhỏ, không ổn định nên không hấp dẫn nhà đầu tư. Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, một số DNNVV thu hẹp sản xuất, giải thể.

- Hạ tầng giao thông kết nối với các khu công nghiệp, khu kinh tế chưa đáp ứng đủ yêu cầu các nhà đầu tư. Thiết bị máy móc lạc hậu không còn phù hợp với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, thiếu thông tin trong ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất.

- Các doanh nghiệp trong cùng một ngành không có liên kết ngành nghề, hiệp hội để hỗ trợ nhau cùng phát triển.

- Sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn còn hạn chế nên việc thực hiện chương trình hỗ trợ doanh nghiệp còn dàn trải, chưa thống nhất (hỗ trợ pháp lý, đào tạo nghề). Năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị và ý thức chấp hành kỷ cương, kỷ luật của một số cán bộ công chức chưa cao trong thực thi công vụ.

Từ thực trạng công tác phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2011-2015, từ những hạn chế, khó khăn nêu trên, UBND tỉnh An Giang đưa ra một số kiến nghị:
   1. Cần nghiên cứu, hỗ trợ nhiều hơn về khoa học kỹ thuật cho doanh nghiệp.
   2. Đơn giản hóa thủ tục về thuế, biểu mẫu báo cáo thuế, tạo thuận lợi cho DNNVV.
   3. Kiện toàn hệ thống cơ quan hỗ trợ phát triển DNNVV từ trung ương tới địa phương. Phát huy vai trò của hệ thống cơ quan này, tiếp tục thực hiện chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho DNNVV.
   4. Ban hành quy chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước với tổ chức đại diện doanh nghiệp.
   5. Tiếp tục kêu gọi, khuyến khích thực hiện xã hội hóa dạy nghề.

Kế hoạch thực hiện phát triển DNNVV giai đoạn 2016-2020:

Với quan điểm thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh An Giang hướng tới một số mục tiêu như đẩy nhanh tốc độ phát triển doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của DNVVV, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng để các DNNVV có điều kiện đóng góp ngày càng cao vào phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. UBND tỉnh tạo điều kiện để hộ kinh kinh thành lập doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu có hơn 5000 doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Nâng cao hiệu quả cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí doanh nghiệp gia nhập thị trường….

Các giải pháp thực hiện:

Nhóm giải pháp về hoàn thiện khung pháp lý chung về phát triển doanh nghiệp

Nhóm giải pháp về chính sách ưu đãi, khuyến khích và hỗ trợ DNNNN tiếp cận nguồn cung tài chính phù hợp điều kiện của DNNNVV, tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sản xuất kinh doanh, hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ kỹ thuật cho DNNN, xây dựng chính sách hỗ trợ DNNVV tiếp cận thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh, trợ giúp phát triển nguồn nhân lực có tay nghề cho DNNVV, kiện toàn hệ thống tổ chức trợ giúp phát triển DNNVV.

Các chương trình, dự án trợ giúp DNNNN

  • Dự án nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa của DNNVV trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ DNNVV công bố tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; hỗ trợ DNNVV áp dụng một số hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến.
  • Chương trình hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng đổi mới công nghệ và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020.
  • Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi.Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020. Xây dựng và hình thành được ít nhấ 01 sản phẩm quốc gia mang thương hiệu Việt Nam, trước mắt là trong lĩnh vực sản xuất lúa gạo và thủy sản.
  • Thực hiện Chương trình quốc giai phát triển công nghệ cao đến năm 2020
  • Chương trình khuyến công tỉnh An Giang giai đoạn 2013-2015 và định hướng 2015-2020 (Quyết định số 1666/QĐ-UBND ngày 31/7/2013 của UBND tỉnh An Giang).
  • Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.
  • Triển khai thực hiện Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg ngày 5/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước (Hồng Liên).

       

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article