Theo nhận định của Bộ Công Thương, sự khởi sắc của sản xuất công nghiệp trong thời gian tới là nhờ những chính sách hỗ trợ của Chính phủ bắt đầu có tác dụng. Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng thị trường các mặt hàng vật liệu xây dựng như sắt, thép, xi măng, đá, cát sỏi…

Trong ba tháng đầu năm 2013, nền kinh tế nước ta tiếp tục chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới.  Thị trường tiêu thụ hàng hóa thu hẹp, nhu cầu tiêu dùng giảm sút dẫn đến sự trì trệ của nhiều nền kinh tế lớn. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 và Nghị quyết số 02/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh  doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, nhưng khó khăn của các doanh nghiệp vẫn còn rất lớn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: tiếp cận vốn và lãi suất cao vẫn là vướng mắc lớn nhất đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ; hàng tồn kho vẫn còn cao, tình trạng nợ xấu chưa được giải quyết; thị trường xuất khẩu đang phải đối mặt với nhiều thách thức với rào cản kỹ thuật.

Theo Tổng cục Thống kê, quý I/2013, mặc dù sản xuất công nghiệp có tăng trưởng nhưng ở mức thấp (tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước), trong đó ngành công nghiệp khai khoáng (chiếm 21,3% giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp) tăng 2,1% (cùng kỳ năm trước tăng 3,6%); công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 70,9% giá trị tăng thêm toàn ngành) tăng 5,4% (cùng kỳ năm trước tăng 5,9%); sản xuất và phân phối điện (chiếm 6,7% giá trị tăng thêm toàn ngành) tăng 8,5% (cùng kỳ năm trước tăng 12,5%); cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải (chiếm 1,1% giá trị tăng thêm toàn ngành) tăng 9,5% (cùng kỳ năm trước tăng 8,4%).

Trong ngành chế biến, chế tạo, nhiều ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 4,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 3,8%; sản xuất kim loại giảm 3,7%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học giảm 3,3%; sản xuất thuốc lá giảm 2,5%; sản xuất xe có động cơ giảm 2,1%; sản xuất, chế biến thực phẩm là ngành lớn nhất của công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm 12,8% giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp chỉ tăng 3,1% (cùng kỳ năm trước tăng 11,8%).

Các sản phẩm công nghiệp có mức tăng thấp hoặc giảm là: Ti vi giảm 18,3%; ô tô giảm 12,1%; vải dệt từ sợi tổng hợp giảm 11,3%; khí hóa lỏng giảm 9,6%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 9%; bột ngọt giảm 6,5%; than khai thác giảm 5,9%; thuốc lá giảm 2,6%; thủy hải sản chế biến tăng 3,6% (cùng kỳ năm trước tăng 13,6%)....

Tuy nhiên, vẫn có những ngành công nghiệp có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm 2012 như: sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 19%; sản xuất da và các sản phẩm da tăng 18,3%; sản xuất đồ uống tăng 14%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,6%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 8,2%. Một số ngành có mức tăng khá như: Sản xuất thiết bị điện tăng 6,8%; sản xuất trang phục tăng 5,8%; khai thác dầu thô và khí tự nhiên tăng 4,7%.

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/3/2013 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,5% so với cùng thời điểm năm trước, thấp hơn mức tăng 19,9% của cùng kỳ năm 2012. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm qua các tháng trong năm qua chủ yếu do các doanh nghiệp tự tháo gỡ khó khăn bằng cách tiêu thụ sản phẩm với giá rẻ, lãi ít hoặc bán lỗ để giải phóng hàng tồn, thu hồi vốn để tái cơ cấu ngành hàng sản xuất có lợi hơn hoặc đầu tư sang lĩnh vực khác.

Những ngành có chỉ số tồn kho cao so với cùng thời điểm năm trước gồm: Sản xuất xe có động cơ tăng 37,3%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 28,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 27,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 22%; sản xuất thiết bị điện tăng 16,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16%; sản xuất kim loại tăng 15,6%; sản xuất trang phục tăng 15,4%. Một số ngành có chỉ số tồn kho thấp hoặc giảm là: Dệt tăng 11,6%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 2%; sản xuất đồ uống giảm 9,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và quang học giảm 31,5%.

Theo nhận định của Bộ Công Thương, sự khởi sắc của sản xuất công nghiệp trong thời gian tới là nhờ những chính sách hỗ trợ của Chính phủ bắt đầu có tác dụng. Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng thị trường các mặt hàng vật liệu xây dựng như sắt, thép, xi măng, đá, cát sỏi…

Hơn nữa, thời gian tới khi bước vào mùa hè, các ngành như sản xuất điện, thiết bị điện, điện lạnh, đồ uống sẽ tăng mạnh. Hiện các doanh nghiệp trong nước đã có xu hướng gia tăng nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.

Đối với ngành da giày, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tương đối khả quan. Hầu hết doanh nghiệp đã có đơn hàng ổn định, trong đó các doanh nghiệp lớn có đơn hàng đến hết quý III năm nay.

Sản lượng giày, dép da 3 tháng đầu năm ước đạt 53,5 triệu đôi, tăng 12,2% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt 2,46 tỷ USD, trong đó riêng xuất khẩu giày dép đạt 1,7 tỷ USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ.

Tương tự với ngành Dệt may, mặc dù thị trường nội địa gần như không tăng trưởng nhưng thị trường xuất khẩu đã phục hồi, các đơn hàng đã ký được đến hết quý II. Riêng Tập đoàn Dệt May Việt Nam, xuất khẩu quý II sẽ tiếp tục tăng trưởng 20% ở nhiều doanh nghiệp thành viên, trong khi các doanh nghiệp khác đang đàm phán các đơn hàng lớn.



 

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article