Triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Quyết định số 1357/QĐ-TTg ngày 13/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 3; Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập xây dựng Dự thảo Nghị định về đầu tư khởi nghiệp sáng tạo
I. Sự cần thiết ban hành Nghị định
1. Khái quát thực tiễn đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam
Trong xu hướng phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, các cuộc cách mạng công nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo (hay còn gọi là start-up) là lực lượng chính của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Các công ty khởi nghiệp sáng tạo không giống như các công ty thương mại, sản xuất kinh doanh truyền thống vì yếu tố nghiên cứu công nghệ và sáng tạo trong các start-up rất cao. Do đó, khởi nghiệp sáng tạo gắn liền với yếu tố rủi ro, nhưng nếu vượt qua các khó khăn thì có thể đem lại giá trị kinh tế lớn. 

Để có thể khởi nghiệp thành công thì vấn đề vốn luôn là điều kiện tiên quyết đối với bất kỳ một Start-up nào. Tuy nhiên, với bản chất rủi ro lớn của các Start-up thì các kênh huy động vốn truyền thống như vay vốn ngân hàng hầu như là không thể, vì vậy việc gọi vốn đầu tư cho Start-up là rất quan trọng. Đầu tư mạo hiểm vào Startup chính là cung cấp nguồn lực để nuôi dưỡng thành công các ý tưởng đổi mới sáng tạo. Chính vì đặc thù đó, trên thế giới, Chính phủ các nước thường có chính sách khuyến khích thành lập các tổ chức đầu tư cho khởi nghiệp, đưa ra các chính sách hỗ trợ hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp; hỗ trợ miễn, giảm thuế cho doanh nghiệp khởi nghiệp; hỗ trợ vốn mồi, vốn đối ứng, hoặc cho vay tín chấp đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư tư nhân.

 Tại Việt Nam, số lượng các quỹ đầu tư trong và ngoài nước cho khởi nghiệp sáng tạo đang có xu hướng gia tăng sự hiện diện tại Việt Nam. Các quỹ ngoại như CyberAgent, 500 Startups, Golden Gate Ventures… hiện mở văn phòng đại diện hoặc có đối tác tại Việt Nam. Trong số các quỹ nội địa thì hiện tại mới có quỹ FPT Venture là đang tích cực thực hiện đầu tư cho khởi nghiệp. Nhiều nhà đầu tư trong nước khác như các công ty lớn, các nhà đầu tư cá nhân cũng đã thể hiện sự quan tâm và nhu cầu muốn đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo.

Một số quỹ đầu tư thành lập theo Luật Chứng khoán của các ngân hàng, công ty lớn như Vietcombank, BIDV, VPBank, VietA bank, Tổng công ty dầu khí có hoạt động đầu tư cho doanh nghiệp. Ví dụ: Công ty Liên Doanh Quản Lý Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Vietcombank ("VCBF") là Công ty liên doanh giữa Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam (“Vietcombank”) và Tập đoàn đầu tư đa quốc gia Franklin Templeton Investments (“FTI”). Công ty đang quản lý hai quỹ mở là Quỹ Đầu Tư Cân Bằng Chiến Lược VCBF (VCBF-TBF) và Quỹ Đầu Tư Cổ Phiếu Hàng Đầu VCBF. Tuy nhiên, hầu hết các quỹ này không đầu tư từ giai đoạn khởi đầu của doanh nghiệp và không đầu tư nhỏ mà chỉ đầu tư vào những dự án có quy mô thường vài trăm ngàn đô. Các quỹ này đầu tư vào một danh mục đa dạng các cổ phiếu niêm yết có giá trị vốn hóa thị trường lớn và các trái phiếu Chính phủ Việt Nam. Do đó, hầu như không đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo.

Trung bình trong 3 năm gần đây, mỗi năm chỉ có khoảng vài chục doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam nhận được đầu tư từ những quỹ đầu tư trong và ngoài nước có đăng ký thành lập. Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam thường huy động vốn từ các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức chuyên đầu tư vào khởi nghiệp, thậm chí đầu tư vào các cá nhân/ nhóm cá nhân chưa thành lập doanh nghiệp mà mới chỉ đang phát triển sản phẩm, dịch vụ. Các khoản đầu tư này không lớn, khoảng từ 5.000-50.000 USD thông qua hình thức cùng thành lập, hoặc góp vốn, mua cổ phẩn của các doanh nghiệp khởi nghiệp, và nhà đầu tư có vai trò như một cổ đông; thành viên góp vốn theo quy định của Luật doanh nghiệp.

Vì vậy, để khơi thông dòng vốn đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo, việc tạo lập hành lang pháp lý về đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo cũng như các chính sách khuyến khích hoạt động này là hết sức cần thiết, đáp ứng kịp thời nhu cầu thực tiễn khách quan.

2. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam

Hiện nay, ngoại trừ Điều 18 của Luật Hỗ trợ DNNVV thì hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo, chưa xác nhận địa vị pháp lý, mô hình tổ chức, hoạt động, quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ các bên liên quan.

Thời gian qua, hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam có thể được thực hiện thông qua các kênh chính sau:

(i) Các nhà đầu tư cá nhân/đầu tư thiên thần bỏ vốn đầu tư vào các cá nhân, nhóm các nhân hoặc các công ty khởi nghiệp tiềm năng. Các nhà đầu tư cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư của mình chủ yếu dựa trên thông tin cũng như kinh nghiệm đánh giá tiềm năng của các start-up và xu hướng thị trường trong và ngoài nước. Các cá nhân tin tưởng và đầu tư lẫn nhau thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phẩn của các doanh nghiệp khởi nghiệp, có vai trò như một cổ đông; hoặc đầu tư vào các nhóm cá nhân có ý tưởng khởi nghiệp để phát triển ý tưởng, hỗ trợ thành lập doanh nghiệp và hưởng tỉ lệ cổ phần trong doanh nghiệp khởi nghiệp. Quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm các bên liên quan chủ yếu được điều chỉnh bởi Luật Dân sự, Luật doanh nghiệp và Luật Đầu tư.

(ii) Từ giữa năm 2014 đến nay, một số nhà đầu tư thành lập công ty theo Luật Doanh nghiệp để thực hiện hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo như Seedcom và FPT Ventures. Tuy nhiên, việc thành lập một công ty để chuyên đi đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thì chưa được quy định ở văn bản nào. Hiện nay, mới chỉ có các quy định dành cho các tổ chức chuyên biệt về đầu tư và tài chính như công ty tài chính, công ty đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán, tổ chức tài chính vi mô, tổ chức tín dụng phi ngân hàng…là hoạt động kinh doanh có điều kiện (Luật Chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng, các Nghị định, Thông tư quy định về quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô….). Việc thành lập và hoạt động của các tổ chức này phải được cơ quan có thẩm quyền quy định. Do vậy, để xác định địa vị pháp lý và tạo hành lang pháp lý cho các công ty đầu tư khởi nghiệp hoạt động hợp pháp thì cần có quy định riêng cho loại hình công ty này.

(iii) Qua khảo sát thực tiễn cho thấy hiện có nhiều nhà đầu tư tư nhân/đầu tư thiên thần có nhu cầu góp vốn hình thành quỹ đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo. Hiện nay, mới chỉ có khung pháp lý quy định thành lập các quỹ đầu tư chứng khoán theo Luật Chứng khoán. Tuy nhiên để thành lập một quỹ đầu tư theo mô hình quỹ đầu tư chứng khoán thì phải đáp ứng các điều kiện thành lập rất cao. Thí dụ như: đối với quỹ đại chúng, một trong số các điều kiện được thành lập quỹ là phải có ít nhất 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp mua chứng chỉ quỹ và tổng giá trị chứng chỉ quỹ đã bán đạt ít nhất là 50 tỷ đồng (điểm 1, Điều 90, Luật Chứng khoán); đối với quỹ thành viên: vốn thực góp tối thiểu là 50 tỷ đồng và có tối đa 30 thành viên góp vốn là pháp nhân; vốn tối thiểu để được thành lập và hoạt động của công ty đầu tư chứng khoán là 50 tỷ đồng (Điều 96, Luật Chứng khoán).

Với những điều kiện như vậy chưa phù hợp cũng như không tạo điều kiện để khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân nhỏ/nhà đầu tư thiên thần cùng nhau góp vốn thành lập quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

Ngoài ra, về bản chất đầu tư khởi nghiệp sáng tạo không giống với đầu tư chứng khoán. Đối tượng đầu tư trong chứng khoán thường là các công ty đã và đang hoạt động, có sản phẩm/hàng hóa trên thị trường và đã có doanh thu. Trong khi đó, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là các doanh nghiệp có thể vẫn đang trong quá trình hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh và hình thành mô hình kinh doanh tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, có khả năng tăng trưởng nhanh. Việc đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tuy có thể đạt mức lợi nhuận rất lớn nếu doanh nghiệp đó thành công nhưng mức độ rủi ro lại vô cùng lớn. Do đó, việc áp dụng tất cả các điều kiện và quy định đối với của các quỹ đầu tư chứng khoán cho quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo là không phù hợp, cần thiết có quy định riêng cho loại hình quỹ này.

3. Sự cần thiết ban hành Nghị định

Nhận thấy vai trò quan trọng của khởi nghiệp sáng tạo trong xu hướng phát triển mới, Đảng và Chính phủ đã có những định hướng, chỉ đạo kịp thời để thúc đẩy khởi nghiệp, đặc biệt là khởi nghiệp sáng tạo như Nghị quyết 19-2016/CP-NQ ngày 28/4/2016; Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16/5/2016; Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025, được phê duyệt tại Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016; và đặc biệt là Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) số 04/2014/QH14 ngày 12/6/2017.

Tại Điều 18, Luật Hỗ trợ DNNVV đã xác định một số nguyên tắc cơ bản về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp và cơ chế đầu tư vào doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước. Để cụ thể hóa Điều 18 và giải quyết những hạn chế trong hệ thống pháp luật về đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo, việc ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết về đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo là hết sức cần thiết.

Nghị định ban hành nhằm một số mục tiêu sau:

- Xác định địa vị pháp lý của các công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo mà hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay chưa quy định hoặc chưa quy định rõ ràng. Như vậy, ngoài các hình thức đầu tư như hiện tại, Nghị định tạo thêm sự lựa chọn cho nhà đầu tư là thực hiện đầu tư thông qua công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

- Đặt ra nguyên tắc chung cho các bên liên quan bao gồm: nhà đầu tư là cá nhân và tổ chức; các công ty khởi nghiệp sáng tạo trong hoạt động đầu tư; khuyến khích, định hướng đầu tư khởi nghiệp sáng tạo khác với các hoạt động đầu tư khác, hạn chế các khả năng trục lợi, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, giúp những nhà đầu tư muốn đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo không bị lợi dụng.

- Nhận diện nhà đầu tư là công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo để Chính phủ có các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 18 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Khơi thông dòng vốn cho khởi nghiệp sáng tạo thông qua việc khuyến khích thành lập các công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo; khuyến khích đầu tư khởi nghiệp sáng tạo chính là khuyến khích đầu tư tạo ra giá trị thương phẩm, nuôi dưỡng nguồn thu cho ngân sách.

II. Kinh nghiệm quốc tế và bài học về xây dựng cơ chế chính sách liên quan đến đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo
1. Kinh nghiệm quốc tế
Trong quá trình xây dựng Nghị định, nhóm soạn thảo đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước như: Singapore[1], Canada[2], Hoa Kỳ[3], EU[4], Malaysia[5]. Theo thông lệ quốc tế, thúc đẩy đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo là yếu tố thiết yếu nếu muốn phát triển bất kỳ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo nào. Cùng với sự phát triển của khởi nghiệp, các nước trên thế giới đã điều chỉnh hoặc xây dựng khung pháp lý riêng dành cho các nhà đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, trong đó đều tạo ra 2 hình thức tổ chức cho nhà đầu tư để thực hiện hoạt động đầu tư khởi nghiệp: (i) tổ chức dưới hình thức công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo (venture capital corporations) và (ii) tổ chức theo hợp đồng dưới hình thức quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo (venture capital funds). Tuy nhiên, hai hình thức này có các điều kiện tương đối nới lỏng và thuận lợi so với các hoạt động tài chính khác như chứng khoán, tổ chức tín dụng nhằm tạo điều kiện phát triển.

Về điều kiện thành lập, hoạt động, các nước đều đưa ra nguyên tắc nhà đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo phải đáp ứng điều kiện tài chính nhất định do đây là hoạt động rủi ro (thường gọi là “accredited investors” hoặc “sophisticated investors”) và quy định số lượng nhà đầu tư tối đa. Các công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo thường được thành lập theo pháp luật về doanh nghiệp; quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo thì do một công ty quản lý quỹ quản lý, thành lập theo pháp luật về chứng khoán và chủ yếu theo mô hình hợp danh trách nhiệm hữu hạn (limited partnership). Công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo đều phải tuân theo một số nguyên tắc, yêu cầu, giới hạn đầu tư của quỹ để có thể nhận diện và phân biện với các hoạt động đầu tư khác.

Về ưu đãi, Chính phủ các nước thường có ưu đãi về thuế cho công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo hoặc có các Chương trình tài trợ, đầu tư cùng các nhà đầu tư tư nhân cho khởi nghiệp sáng tạo để giảm thiểu rủi ro, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn cho khởi nghiệp.

2. Bài học kinh nghiệm

Trên cơ sở kinh nghiệm của các nước nêu trên và tình hình thực tiễn về hệ thống pháp luật của Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ một số bài học kinh nghiệm rút ra như sau:

- Hoạt động đầu tư khởi nghiệp sáng tạo là hoạt động có tính chất rủi ro cao, do đó cần một số yêu cầu và nguyên tắc nhất định để điều chỉnh hoạt động này, nhằm bảo vệ nhà đầu tư, tránh bị trục lợi, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội như: quy định về nhà đầu tư đủ điều kiện tài chính; một số nguyên tắc tuân thủ và hạn chế đầu tư (không đầu tư vào bất động sản, chứng khoán của các công ty trên sàn, không dùng tài sản của quỹ để cầm cố, thế chấp, bảo lãnh cho vay…).

- Áp dụng hai mô hình tổ chức cho nhà đầu tư:

(i) Công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: thành lập và tổ chức hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

(ii) Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: tổ chức tương tự mô hình quỹ thành viên quy định tại Luật Chứng khoán, nhưng có các điều kiện thành lập nới lỏng hơn. Quỹ có thể lựa chọn 1 trong 2 mô hình tổ chức: công ty quản lý quỹ chịu trách nhiệm quản lý và quyết định danh mục đầu tư; hoặc các nhà đầu tư cử ra ít nhất 01 người chịu trách nhiệm quản lý và quyết định danh mục đầu tư.

- Về quản lý nhà nước về công ty, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: Hồ sơ, trình tự thủ tục thành lập, thay đổi theo quy định của pháp luật tương ứng. Cụ thể đối với các nghiệp vụ liên quan đến việc thành lập, hoạt động của công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo Luật Doanh nghiệp thực hiện theo hướng dẫn của hệ thống Cơ quan đăng ký kinh doanh; việc cấp phép thành lập, quản lý hoạt động của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện. Bộ Kế hoạch và Đầu tư nắm bắt và tổng hợp chung báo cáo Thủ tướng Chính phủ về hoạt động đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và tình hình thực hiện Nghị định này.

III. Nguyên tắc và quá trình xây dựng Nghị định

1. Nguyên tắc xây dựng Nghị định

a) Tuân thủ các quy định của hệ thống văn bản pháp luật như Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Chứng khoán 2006 và 2010, Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 và các hệ thống văn bản pháp luật có liên quan.

b) Rà soát khung pháp lý hiện tại liên quan đến đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo và các quy định pháp lý điều chỉnh các đối tượng thực hiện đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam (điều kiện và thủ tục thành lập, quản lý, cơ cấu tổ chức của các quỹ đầu tư, công ty đầu tư, các chương trình, dự án đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước…) để xác định được những vấn đề về đầu tư khởi nghiệp sáng tạo mà hệ thống pháp luật hiện tại của Việt Nam chưa điều chỉnh hoặc chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

c) Kế thừa các nội dung liên quan quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán; đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về các công ty/quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo thường gọi là đầu tư mạo hiểm (venture capital fund/corporation) để quy định một số nội dung còn thiếu, còn bất cập trong hệ thống chính sách pháp luật hiện nay nhằm vừa đảm bảo tính thống nhất phù hợp với pháp luật hiện hành vừa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn khách quan trong việc xây dựng chính sách.

d) Xác định địa vị pháp lý của quỹ đầu tư và công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và quy định các nguyên tắc chuẩn mực để các đối tượng liên quan có thể xác định được quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, làm căn cứ thiết lập mô hình tổ chức, hợp đồng pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo.

đ) Tạo cơ chế tự kê khai, tự chịu trách nhiệm cho các đối tượng liên quan đến đầu tư khởi nghiệp sáng tạo; đồng thời đặt ra một số điều kiện và giới hạn về đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo do việc đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo có độ rủi ro rất cao, khả năng sinh lời rất lớn nếu thành công nên Nhà nước cần có các quy định nhằm cảnh báo và hạn chế những hành vi lừa đảo, trục lợi hoặc bị lợi dụng huy động vốn, gây bất ổn trong đời sống kinh tế xã hội.

e) Nhà nước khuyến khích hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo thông qua cơ chế chia sẻ rủi ro với nhà đầu tư tư nhân như giảm thuế thu nhập có thời hạn, tham gia cùng đầu tư với nhà đầu tư tư nhân. Vốn đầu tư của Nhà nước chỉ mang tính chất vốn mồi nhằm thúc đẩy thêm dòng vốn tư nhân đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Các khoản đầu tư từ ngân sách Nhà nước có thời hạn cụ thể và có cơ chế hạn chế rủi ro.

2. Quá trình xây dựng Nghị định

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Quyết định số 1220/QĐ-BKHĐT ngày 5/9/2017 về việc thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập xây dựng Nghị định về đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

Dự thảo Nghị định được xây dựng trên cơ sở rà soát, đánh giá tình hình đầu tư khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam thời gian qua, khung chính sách liên quan điều chỉnh hoạt động này; đồng thời tiếp thu bài học kinh nghiệm và thông lệ quốc tế (Mỹ, Singapore, Malaysia, Ấn Độ, Israel, Phần Lan….) về quy định pháp lý điều chỉnh quỹ/công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, vai trò của Nhà nước trong khuyến khích hỗ trợ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

Trong quá trình xây dựng nội dung dự thảo Nghị định được sự tham vấn của nhiều cơ quan, tổ chức và chuyên gia trong lĩnh vực này, như: Quỹ Đầu tư và Phát triển Hà Nội, FPT Ventures, Công ty LD quản lý quỹ đầu tư CK Vietcombank VCBF, dự án Thung lũng Silicon Việt Nam -VSV (Bộ Khoa học và Công nghệ), các chuyên gia, luật sư về khởi nghiệp và đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp, văn phòng đại diện của một số quỹ nước ngoài tại Việt Nam (Cyber Agent), các tổ chức, dự án quốc tế như IPP (Phần Lan), SECO (Thụy Điển)., Nhóm công tác Khởi nghiệp sáng tạo VPSF-Diễn đàn Kinh tế tư nhân.

Dự thảo cũng đã được gửi lấy ý kiến rộng rãi (đăng tải trên Cổng thông tin Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày …, Hội thảo ngày .../10/2017)

IV. Về kết cấu của dự thảo Nghị định

Dự thảo Nghị định gồm 06 Chương, 37 Điều, cụ thể như sau:

Chương I quy định chung, bao gồm: Phạm vi, đối tượng điều chỉnh, giải thích từ ngữ, các quy định chung, điều kiện tài chính đối với nhà đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, điều kiện thành lập công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, nguyên tắc đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

Chương II quy định các nội dung về công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: thành lập công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, người đại diện theo pháp luật của công ty.

Chương III quy định về quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: điều kiện thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động, điều lệ, hồ sơ thủ tục thành lập, tăng giảm vốn điều lệ, hợp nhất, sáp nhập quỹ, thanh lý, giải thể quỹ, phân chia lợi tức quỹ, chuyển nhượng phần vốn góp...

Chương IV quy định cơ chế đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước, bao gồm: nguyên tắc đầu tư, hội đồng đầu tư, đối tác tham gia thực hiện, đối tượng nhận đầu tư, hình thức và phương thức đầu tư, thời hạn đầu tư, chuyển nhượng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trích lập quỹ dự phòng, xử lý rủi ro và thẩm quyền xử lý rủi ro....

Chương V quy định về quản lý nhà nước đối với đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, bao gồm chế độ báo cáo hoạt động của quỹ /công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, chế đô kế toán tài chính, xử lý vi phạm, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký quỹ/công ty, ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chương VI quy định nội dung về tổ chức thực hiện Nghị định.

V. Các nội dung chính quy định tại Dự thảo Nghị định

1. Về phạm vi và đối tượng điều chỉnh

a) Phạm vi điều chỉnh

Dự thảo Nghị định hướng dẫn việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, cơ chế đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 18, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) số 04/2017/QH14.

b) Đối tượng điều chỉnh bao gồm:

- DNNVV khởi nghiệp sáng tạo theo quy định tại Khoản 2, Điều 3, Luật Hỗ trợ DNNVV;

- Nhà đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo quy định tại Khoản 1, Điều 18, Luật Hỗ trợ DNNVV;

- Các công ty quản lý quỹ thành lập theo Luật Chứng khoán

- Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.

2. Về các quy định chung, ưu đãi thuế và điều kiện tài chính (Điều 3, Điều 4 và Điều 5)

Một trong những mục tiêu của Nghị định là tăng thêm sự lựa chọn, xác định vị trí pháp lý cho các nhà đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, hình thành khung pháp lý thuận lợi khuyến khích đầu tư khởi nghiệp theo nguyên tắc tạo cơ chế tự kê khai, tự chịu trách nhiệm của các bên liên quan khi tham gia hoạt động đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Do đó, Điều 3, dự thảo Nghị định quy định:

- Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có quyền thực hiện hoạt động đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo các hình thức mà pháp luật không cấm hoặc thông qua các công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo quy định tại Nghị định này.

- Nhà đầu tư và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khởi nghiệp sáng tạo tự thỏa thuận về giá trị phần vốn góp, cổ phần, tỷ lệ vốn góp, tỷ lệ cổ phần tại doanh nghiệp được hình thành hoặc được tăng vốn từ hoạt động đầu tư. Các thành viên chịu trách nhiệm trước pháp luật về nguồn gốc xuất xứ của số tiền đầu tư là hợp pháp, không vi phạm luật pháp về phòng, chống rửa tiền của Việt Nam và quốc tế.

Bên cạnh đó, dù rủi ro cao nhưng khả năng lợi nhuận cũng cao nên đầu tư khởi nghiệp sáng tạo có thể bị lợi dụng để huy động vốn, lừa đảo tiền trong dân, gây bất ổn đời sống kinh tế xã hội. Do đó, Khoản 4 Điều 3, dự thảo Nghị định quy định: Công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ, Giám đốc quỹ không được huy động vốn thành lập công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo phương thức đa cấp; không được sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để quảng cáo, kêu gọi góp vốn.

Về chính sách ưu đãi (Điều 4): các nhà đầu tư có quyền lựa chọn các cách thức đầu tư. Tuy nhiên, với những nhà đầu tư có ý chí và chuyên nghiệp cho đầu tư khởi nghiệp sáng tạo thì sẽ được hưởng các ưu đãi của Nhà nước. Dự thảo Nghị định nhận diện các nhà đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo thông qua công ty, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo với các quy định về thành lập, hoạt động khác biệt với các loại hình doanh nghiệp, quỹ đầu tư khác (quy định tại Chương II và Chương III) để có chính sách ưu đãi, khuyến khích.

Do tính chất rủi ro trong đầu tư khởi nghiệp rất lớn nên đầu tư khởi nghiệp sáng tạo hay còn gọi là đầu tư mạo hiểm và là cuộc chơi dành cho những nhà đầu tư có tiềm lực kinh tế, có kinh nghiệm và rất am hiểu về đầu tư tài chính và doanh nghiệp. Các nước trên thế giới như Singapore, Malaysia hay Mỹ đều có các điều kiện đối với nhà đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

Vì vậy, Điều 5, dự thảo Nghị định quy định một số điều kiện tài chính đối với nhà đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: đối với nhà đầu tư là cá nhân thì phải có thu nhập bình quân trong 2 năm tối thiểu 200 triệu đồng Việt Nam hoặc có tổng tài sản tối thiểu 500 triệu đồng Việt Nam; đối với nhà đầu tư là tổ chức thì phải có tổng tài sản tối thiểu là 01 tỷ đồng Việt Nam.

3. Về thành lập, tổ chức quản lý, phạm vi hoạt động của công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo (Điều 6, 7, 8)

Hiện nay, một số công ty thành lập theo Luật Doanh nghiệp có hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo như Seedcom và FPT Ventures. Tuy nhiên, chưa có văn bản pháp lý nào xác định rõ ràng địa vị pháp lý cũng như ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp chuyên đi đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Bên cạnh đó, theo quy định pháp lý hiện tại, hoạt động kinh doanh đầu tư tài chính là ngành nghề kinh doanh có điều kiện như đầu tư kinh doanh chứng khoán (công ty đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán), đầu tư tài chính, tín dụng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức tài chính vi mô, tổ chức tín dụng phi ngân hàng….).

Vì vậy, Điều 6, dự thảo Nghị định đã quy định rõ “công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký thành lập, thay đổi điều lệ, tăng giảm vốn điều lệ; hợp nhất, sáp nhập, giải thể công ty thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp”

Đồng thời quy định các điều kiện riêng nhận diện công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: Vốn điều lệ tối thiểu là 500 triệu đồng, tên doanh nghiệp có tiền tố “đầu tư khởi nghiệp sáng tạo”; điều lệ phải nêu rõ “Công ty này nhằm mục tiêu đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo.Việc góp vốn thành lập công ty này chỉ phù hợp đối với các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận mức rủi ro cao tiềm tàng từ việc đầu tư của công ty. Thành viên, cổ đông cần cân nhắc kỹ trước khi tham gia góp vốn.”

Trong đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, độ rủi ro sẽ được hạn chế rất nhiều nếu người ra quyết định đầu tư có thể phân tích và đưa ra được quyết định đầu tư đúng đắn. Theo thông lệ quốc tế, các nước thường không chỉ quy định về điều kiện tài chính mà còn có quy định về kinh nghiệm, trình độ đối với những người có quyền ra quyết định đầu tư. Theo đó, Điều 7, dự thảo Nghị định quy định: Người đại diện theo pháp luật của công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo ngoài đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn của Luật doanh nghiệp thì cần có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm người quản lý doanh nghiệp hoặc làm việc tại các vị trí liên quan tới nghiệp vụ đầu tư tại các tổ chức trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm hoặc tại bộ phận tài chính, kế toán, đầu tư trong các doanh nghiệp khác; Chưa từng bị khởi tố, kết án, dù ở trong hoặc ngoài Việt Nam, về tội gian lận hoặc lừa đảo hoặc tham nhũng hoặc lạm dụng tín nhiệm hoặc tội danh nào đó do không trung thực.

Đồng thời, để nhận diện công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo với các công ty khác, dự thảo Nghị định đưa ra phạm vi hoạt động tại Điều 8, dự thảo Nghị định: Không đầu tư vào bất động sản, cổ phiếu của doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán; không tham gia góp vốn vào công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo khác; không được đi vay dưới mọi hình thức; không được sử dụng vốn, tài sản của quỹ để cho vay, bảo lãnh cho khoản vay của bất cứ bên thứ ba nào.

4. Về thành lập, hoạt động, tổ chức quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo (Từ Điều 9 đến Điều 22)

Thông lệ quốc tế có hai loại hình quỹ đầu tư, quỹ tín thác (chào bán rộng rãi ra công chúng) và quỹ cổ phần tư nhân (quỹ Private Equity - PE) (chào bán cho một số tổ chức, cá nhân nhất định có khả năng chấp nhận rủi ro cao). Cả hai loại hình này đều được điều chỉnh bởi pháp luật chứng khoán.

Trong phạm vi quỹ cổ phần tư nhân, người ta tách ra làm hai loại, quỹ vốn cổ phần PE (Private Equity) và quỹ mạo hiểm (Venture Capital - VC) hay quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Cụ thể, quỹ vốn cổ phần PE chuyên đầu tư dưới hình thức mua toàn bộ (100% vốn) hoặc chi phối tại các công ty đã hình thành, hoạt động không hiệu quả và đang thua lỗ. Trong khi quỹ mạo hiểm VC/đầu tư khởi nghiệp sáng tạo lại chuyên đầu tư để nắm giữ một phần không chi phối (thường thì dưới 50% vốn) tại các start-up, công ty mới hình thành, có tiềm năng phát triển.

Theo thông lệ thế giới, các nhà đầu tư của quỹ thống nhất lựa chọn một công ty để quản lý quỹ. Công ty này có thể có vai trò ra quyết định danh mục đầu tư hoặc các nhà đầu tư lựa chọn các cá nhân am hiểu về khởi nghiệp sáng tạo (general partner). Đối chiếu với quy định pháp luật các quốc gia khác và hệ thống pháp luật Việt Nam, dự thảo Nghị định quy định kế thừa các nguyên tắc quản lý đối với quỹ thành viên theo Luật Chứng khoán nhưng có các quy định nới lỏng hơn và một số khác biệt về tổ chức so với quỹ thành viên nhằm phù hợp với đặc thù của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo là quy mô quỹ hẹp và nhỏ so với các quỹ đầu tư chứng khoán. Các quy định tại Chương này như sau:

- Điều 9. Thành lập quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo

- Điều 10. Tổ chức quản lý và hoạt động của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo

- Điều 11. Phạm vi hoạt động của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo

- Điều 12. Điều lệ quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo

- Điều 13. Đại hội nhà đầu tư

- Điều 14. Hồ sơ, thủ tục thành lập quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo

- Điều 15. Tăng, giảm vốn điều lệ quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo

- Điều 16. Hợp nhất, sáp nhập quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo

- Điều 17. Gia hạn thời gian hoạt động, giải thể quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo

- Điều 18. Thanh lý, giải thể quỹ

- Điều 19. Trình tự, thủ tục giải thể quỹ

- Điều 20. Giá trị tài sản quỹ

- Điều 21. Phân chia lợi tức của quỹ

- Điều 22. Chuyển nhượng phần vốn góp giữa các nhà đầu tư của quỹ

5. Về cơ chế đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước (từ Điều 23 đến Điều 31)

Theo kinh nghiệm quốc tế, Chính phủ các nước như Isarel, Singapore thường có Chương trình hỗ trợ đầu tư vốn mồi nhằm giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư tư nhân khi đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Để cụ thể hóa khoản 4, Điều 18 Luật Hỗ trợ DNNVV, dự thảo Nghị định đã quy định cơ chế đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện qua hình thức xây dựng Đề án đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, thẩm quyền quyết định thuộc Chính quyền địa phương có sự tham vấn của các Bộ ngành liên quan.

Chính quyền địa phương thông qua một tổ chức tài chính nhà nước địa phương để triển khai Đề án đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn mình. Sự tham gia của vốn đầu tư nhà nước mang tính chất vốn mồi, chia sẻ rủi ro ban đầu với các nhà đầu tư tư nhân (vốn đầu tư từ ngân sách địa phương không quá 30% tổng vốn đầu tư mà doanh nghiệp khởi nghiệp huy động được từ các nhà đầu tư tư nhân tham gia thực hiện).

Về việc giao tổ chức tài chính địa phương như theo quy định tại khoản 4, Điều 18 Luật Hỗ trợ DNNVV, hiện nay, các tổ chức tài chính nhà nước ở địa phương là các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách như quỹ đầu tư phát triển, quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV…. Trong số đó chỉ có quỹ đầu tư phát triển (khoảng 44 quỹ và  công ty đầu tư tài chính nhà nước TP. Hồ Chí Minh- HFIC) có chức năng đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp trong lĩnh vực ưu tiên của quỹ đầu tư phát triển). Tuy nhiên, theo quy định hiện nay thì đối tượng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo không phải là đối tượng ưu tiên đầu tư của quỹ đầu tư phát triển địa phương.

Dự thảo Nghị định đề xuất 02 phương án như sau:

Phương án 1:

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao dưới hình thức ủy thác nguồn vốn thực hiện Đề án cho tổ chức tài chính của địa phương triển khai thực hiện.

b) Nội dung ủy thác đảm bảo các nội dung chính: mục đích ủy thác; phạm vi và nội dung ủy thác (thực hiện Đề án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo); số vốn ủy thác, thời hạn ủy thác, phí ủy thác; đối tượng thụ hưởng; trách nhiệm thẩm định và giám sát hoạt động ủy thác; trách nhiệm xử lý rủi ro của bên ủy thác; hình thức thanh toán phí ủy thác và chấm dứt hoạt động ủy thác; các nội dung khác.

- Ưu điểm:

+ Nguồn vốn thực hiện Đề án đầu tư cho khởi nghiệp tách bạch với nguồn vốn của tổ chức tài chính, thuận lợi cho việc hạch toán và quản lý; cần điều chỉnh Điều lệ hay chức năng nhiệm vụ của tổ chức này.

+ Linh hoạt áp dụng phù hợp với điều kiện của từng địa phương vì nếu áp dụng phương án này phạm vi ủy thác, nội dung ủy thác sẽ do địa phương quyết định.

- Nhược điểm: Tổ chức tài chính nhận ủy thác và chỉ được hưởng phí ủy thác (thường rất thấp) nên có thể làm hạn chế tính chủ động, tinh thần trách nhiệm cũng như hiệu quả đầu tư; khó khăn khi áp dụng các biện pháp hạn chế rủi ro khi đầu tư như trích lập quỹ dự phòng.

Phương án 2: bổ sung nhiệm vụ và vốn Điều lệ cho tổ chức tài chính hiện có để thực hiện nhiệm vụ triển khai Đề án đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo. (Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung các Nghị định, văn bản liên quan đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách như quỹ đầu tư phát triển, quỹ bảo lãnh tín dụng)

- Ưu điểmDo tổ chức tài chính địa phương hiện nay chủ yếu là các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách là các đơn vị có vốn điều lệ ngân sách cấp và phải bảo toàn và phát triển vốn nên việc bổ sung thêm nhiệm vụ và vốn thực hiện sẽ tăng tính chủ động, trách nhiệm, hiệu quả đầu tư cũng có các biện pháp giảm thiểu rủi ro đầu tư.

- Nhược điểm: cần sửa đổi, bổ sung điều lệ, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị này quy định tại các Nghị định liên quan (có thể làm thay đổi mục tiêu ban đầu và phạm vi hoạt động của các tổ chức tài chính hiện có)

b) Các đối tác tham gia thực hiện là các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo thành lập theo Nghị định này, các vườn ươm doanh nghiệp, các tổ chức thúc đẩy khởi nghiệp, các nhà đầu tư là pháp nhân trong nước đáp ứng các tiêu chí do Hội đồng đầu tư phê duyệt. Hội đồng đầu tư do cơ quan chủ trì thực hiện Đề án thành lập bao gồm đại diện các Sở ngành liên quan và các chuyên gia về đầu tư khởi nghiệp sáng tạo (thành viên không quá 9 người).

c) Hình thức và phương thức đầu tư: Các đối tác tư nhân tham gia thực hiện đề án đầu tư sẽ đánh giá, lựa chọn cơ quan chủ trì đề án xem xét quyết định cùng đầu tư, mức đầu tư từ ngân sách địa phương không quá 30% tổng vốn mà doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo huy động được và không quá mức đầu tư tối đa do Đề án quy định. Vượt mức đầu tư quy định thì Chủ tịch UBND xem xét quyết định.

Cơ quan chủ trì Đề án cử người đại diện phần vốn góp của ngân sách địa phương tại doanh nghiệp nhận đầu tư. Khoản đầu tư phải được trích lập quỹ dự phòng.

d) Thời hạn đầu tư và chuyển nhượng vốn đầu tư

Thời hạn đầu tư của Đề án không quá 5 năm, việc chuyển nhượng vốn đầu tư từ ngân sách địa phương của Đề án thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp.

Áp dụng kinh nghiệm của Israel và Singapore cũng như thực tiễn TP. Hồ Chí Minh triển khai chương trình đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp do Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với vườn ươm doanh nghiệp thực hiện, Điều 24 dự thảo Nghị định quy định ưu tiên chuyển nhượng vốn cho doanh nghiệp nhận đầu tư và các đối tác tư nhân cùng tham gia thực hiện đề án; Thu nhập từ việc chuyển nhượng các khoản vốn góp đầu tư theo Đề án này được chuyển một phần về ngân sách địa phương theo tỷ lệ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định để tiếp tục thực hiện Đề án giai đoạn tiếp theo. Cơ quan chủ trì thực hiện Đề án được giữ lại một phần để bù đắp chi phí thực hiện.

đ) Thẩm quyền xử lý rủi ro

Điều 25 dự thảo Nghị định quy định Trong trường hợp số tiền thu về sau khi chuyển nhượng vốn đầu tư từ Đề án thấp hơn so với số vốn đầu tư ban đầu hoặc doanh nghiệp nhận đầu tư bị phá sản thì Cơ quan chủ trì thực hiện Đề án xây dựng phương án xử lý, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố xem xét, quyết định

6. Về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư khởi nghiệp sáng tạo (Chương V, từ Điều 32 đến Điều 40)

a) Chế độ báo cáo hoạt động: dự thảo Nghị định quy định trước ngày 31/12 hàng năm, công ty quản lý quỹ hoặc Giám đốc quỹ đầu tư khởi nghiệp, công ty đầu tư khởi nghiệp có trách nhiệm gửi báo cáo về tình hình hoạt động tới Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi đăng ký thành lập và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Cục Phát triển doanh nghiêp) để phục vụ công tác quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo.

b) Về chế độ kế toán: dự thảo Nghị định đề xuất 02 phương án: (i) Bộ Tài chính có hướng dẫn riêng cho các quỹ/công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo; (ii) áp dụng theo chế độ kế toán tài chính hiện hành của các doanh nghiệp, quỹ chứng khoán.

c) Dự thảo Nghị định cũng quy định về xử lý vi phạm, thu hồi giấy chứng nhận quỹ/công ty đầu tư khởi nghiệp sáng tạo

 
Mời độc giả xem toàn văn Dự thảo Nghị định

Mọi ý kiến đóng góp xin được gửi tới: Nguyễn Thị Lệ Quyên, hòm thư điện tử quyenntl@gmail.com, điện thoại bàn: 08044948.


[1] http://uk.practicallaw.com/5-578-7841#a765541

[2] http://www.bclaws.ca/civix/document/id/complete/statreg/96429_01#section2

[3] https://www.sec.gov/rules/final/2011/ia-3222.pdf

[4] European Venture Capital Funds (EuVECA) Regulation

[5] http://www.sc.com.my/wp-content/uploads/eng/html/resources/guidelines/VC/guidelines_vcpe_150309.pdf

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
  Gửi ý kiến phản hồi
OMAZU