Ngày 12/9/2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Công văn số 7454/BKHĐT-PTDN về báo cáo này

1. Về quá trình triển khai thực hiện tính đến 25/8/2017:

Ngày 16/6/2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Công văn số 4917/BKHĐT-PTDN đề nghị các Bộ ngành, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước rà soát các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở một số tiêu chí như:

- Tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng so với mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

- Doanh thu, lợi nhuận thực tế thấp hơn trong báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt;

- Dự án đầu tư dở dang, chưa đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng kế hoạch đầu tư;

- Dự án đầu tư đã đi vào hoạt động nhưng không đảm bảo công suất thiết kế, không bù đắp được chi phí vận hành; chi phí sản xuất thực tế cao hơn chi phí sản xuất theo tính toán khi thiết kế dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi); thời gian lỗ thực tế kéo dài hơn thời gian lỗ kế hoạch;

- Giá thành sản phẩm thực tế cao hơn giá thành sản phẩm theo tính toán khi thiết kế dự án.

Về số lượng các đơn vị đã gửi báo cáo:

- Tính đến ngày 25/8/2017, có 11/22 Bộ, cơ quan ngang Bộ (Nội vụ, VHTT&DL, TT&TT, Quốc phòng, GD&ĐT, Ủy ban dân tộc), 01/8 cơ quan thuộc Chính phủ (Đài Truyền hình Việt Nam), 39/63 địa phương, 02/06 Tập đoàn kinh tế (VNPT, VRG), 09 Tổng công ty (Vinafood 1, Vinafood 2, SCIC, Vinataba, Vinalines, SBIC, Vinapaco, Vinacafe, Khánh Việt) đã gửi báo cáo theo hướng dẫn tại Công văn số 4917/BKHĐ-PTDN của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

- Một số Bộ, địa phương quản lý nhiều doanh nghiệp nhà nước như Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, UBND TP. Hà Nội, UBND TP. Hồ Chí Minh; một số Tập đoàn kinh tế là Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Hoá chất, Tập đoàn Viễn thông quân đội, Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Than - Khoáng sản, một số Tổng công ty như Tổng công ty Xi măng, Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Phát triển nhà và đô thị… chưa gửi báo cáo theo đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

(Thống kê chi tiết về số lượng các đơn vị đã gửi báo cáo tại Phụ lục số 01 đính kèm).

2. Về tổng hợp một số nội dung cơ bản của các báo cáo:

Theo thống kê tại các báo cáo gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 25/8/2017 có 43 Dự án của các doanh nghiệp (các Tổng công ty, công ty) thuộc các Bộ, 21 Dự án thuộc các địa phương, 8 Dự án thuộc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước với tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng khoảng 42.744 tỷ đồng là các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả theo một số tiêu chí do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất, cụ thể như sau:

- Số dự án có tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng so với mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt: 15 dự án (tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng khoảng 22.536 tỷ đồng, tăng 2,03 lần so với tổng mức đầu tư ban đầu).

- Số dự án có doanh thu, lợi nhuận thực tế thấp hơn trong báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt: 25 dự án (tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng khoảng 11.384 tỷ đồng, tăng 1,14 lần so với tổng mức đầu tư ban đầu).

- Số dự án đầu tư dở dang, chưa đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng kế hoạch đầu tư: 29 dự án (tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng khoảng 4.236 tỷ đồng, tăng 1,15 lần so với tổng mức đầu tư ban đầu).

- Số dự án đầu tư đã đi vào hoạt động nhưng không đảm bảo công suất thiết kế, không bù đắp được chi phí vận hành; chi phí sản xuất thực tế cao hơn chi phí sản xuất theo tính toán khi thiết kế dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi); thời gian lỗ thực tế kéo dài hơn thời gian lỗ kế hoạch: 20 dự án (tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng khoảng 12.465 tỷ đồng, tăng 1,21 lần so với tổng mức đầu tư ban đầu).

- Số dự án có giá thành sản phẩm thực tế cao hơn giá thành sản phẩm theo tính toán khi thiết kế dự án: không có.

- Ngoài ra có 8 dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả đã được thanh lý, hoặc chuyển giao, thay đổi chủ đầu tư (số liệu cụ thể tại Bảng dưới đây)

 BẢNG TỔNG HỢP MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÓ DẤU HIỆU KHÔNG HIỆU QUẢ

TT

 

Dự án

Tổng mức đầu tư ban đầu

Tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng

 

TÊN CƠ QUAN/TỔ CHỨC

Tổng số

DA
bất động sản

DA phát
triển hạ tầng

DA nông
nghiệp

DA khác
 (xây dựng nhà máy,lắp đặt dây chuyển sản xuất…)

Tổng số

DA
bất động sản

DA phát
triển hạ tầng

DA nông
nghiệp

DA khác
 (xây dựng nhà máy,lắp đặt dây chuyển sản xuất…)

1

Bộ

43

5

4

13

21

15106

22915

2788

13823

888,57

5415,43

2

Địa phương

21

3

2

9

7

2450

3286,32

530,23

838,77

369,32

1548

 

- Trong đó góp vốn do công
 ty XSKT thực hiện

-

2

-

-

-

 

489

489

-

-

-

3

Tập đoàn kinh tế

1

-

-

-

1

5462

5462

-

-

-

5462

4

Tổng công ty nhà nước

7

-

-

-

7

10707

11081

-

-

-

11081

 

TỔNG SỐ

72

-

-

-

-

33725

42744,3

-

-

-

-

Tổng mức đầu tư được phê
duyệt sau cùng tăng so với tổng mức đầu tư ban đầu

 

 

 

 

 

 

127%

 

 

 

 

 

2.1. Đối với báo cáo của các Bộ, ngành:

- Có 09 cơ quan (Bộ Nội vụ, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Y tế, Uỷ ban dân tộc, Đài Truyền hình Việt Nam) không có các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả thuộc các doanh nghiệp nhà nước do các cơ quan này là đại diện chủ sở hữu.

Đối với một số dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả của Bộ, ngành cụ thể như sau:

- Bộ Thông tin và Truyền thông: Theo báo cáo tại Công văn số 2270/BTTTT-QLDN ngày 28/6/2017, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 1679/BTTTT-QLDN ngày 13/7/2017. Theo đó 03/04 doanh nghiệp nhà nước do Bộ quản lý là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tổng công ty Viễn thông Mobifone và Tổng công ty Bưu điện Việt Nam chưa có dự án thua lỗ kéo dài, không có khả năng phục hồi.

Riêng Tổng công ty truyền thông đa phương tiện có một số dự án đầu tư có mục đích sử dụng cho Đài truyền hình kỹ thuật số VTC đã được thực hiện, có nguy cơ giảm hiệu quả khi việc bàn giao, chia tách Đài VTC chưa được hoàn thành (Dự án xây dựng trụ sở Đài VTC, Dự án Trung tâm truyền thông đa phương tiện, Dự án nâng cao năng lực Trung tâm truyền thông đa phương tiện, Dự án hiện đại hoá thiết bị trường quay bằng công nghệ cao: 04 dự án có tổng mức đầu tư là 1.678 tỷ đồng và hầu hết đưa vào sử dụng trong năm 2014 hoặc 2015, nhưng tỷ lệ sử dụng thấp).

- Bộ Quốc phòng: Theo báo cáo tại Công văn số 7318/BQP-KHĐT ngày 27/6/2017, Bộ Quốc phòng đã thống kê các dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả theo 02 nhóm là các dự án đã đưa vào sản xuất, vận hành và các dự án tạm dừng, dở dang chưa hoàn thiện đầu tư.

+ Nhóm các dự án đã đưa vào sản xuất, vận hành bao gồm: các dự án trồng cao su kém hiệu quả sang Lào, Campuchia thuộc Tổng công ty 15; các dự án nâng công suất khai thác than tại mỏ Đông Rì, mỏ Nam Khe Tam của Tổng công ty Đông Bắc.

+ Nhóm các dự án tạm dừng, dở dang chưa hoàn thiện đầu tư: Là các dự án đầu tư vào lĩnh vực bất động sản như xây dựng khu đô thị của Công ty TNHH MTV Hà Thành; dự án xây dựng khu nhà ở, dịch vụ thương mại và văn phòng của Tổng công ty Thành An tại Quận Thanh Xuân, Hà Nội và dự án xây dựng khu nhà ở, dịch vụ thương mại và văn phòng Thành An Tower tại 21 Lê Văn Lương, Hà Nội; dự án khu biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp Sunshine Hill I và Sunshine Hill II của Tổng công ty Thái Sơn.

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Theo báo cáo tại  Công văn số 6399/BNN-QLDN, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống kê có 27 dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả thuộc Tổng công ty Lương thực Miền Nam (11 dự án), Tổng công ty Cà phê (13 dự án), Công ty TNHH MTV Thuỷ sản Hạ Long (3 dự án), với tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng là 909,76 tỷ đồng, tập trung chủ yếu vào các nhóm là nhóm dự án đã tạm dừng hoạt động (13 dự án), nhóm dự án đang sản xuất, vận hành nhưng thua lỗ (8 dự án).

- Bộ Giao thông vận tải: Theo báo cáo tại Công văn số 8694/BGTVT-QLDN ngày 04/8/2017, Bộ Giao thông vận tải thống kê có 02 doanh nghiệp có các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả thuộc Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (SBIC) và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines).

+ Giai đoạn từ 2000 đến 2010, SBIC có  khoảng 700 dự án đầu tư, trong đó có 238 dự án đã có quyết định đầu tư từ cấp có thẩm quyền. Hiện nay, SBIC đang thực hiện Đề án tái cơ cấu theo Quyết định số 1224/QĐ-TTG ngày 26/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Do đó, Bộ Giao thông vận tải không báo cáo cụ thể về các dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả của SBIC theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

+ Đối với Công ty mẹ - TCT Hàng hải Việt Nam: Theo Công văn số 8694/BGTVT-QLDN, Công ty mẹ - TCT Hàng hải Việt Nam có 03 dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả là: Dự án Đầu tư xây dựng Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, có tổng mức đầu tư được duyệt sau cùng là 6.177,7 tỷ đồng. Dự án đã dừng thực hiện từ năm 2012 và hiện đang làm thủ tục bàn giao cho Cục Hàng hải Việt Nam; Dự án đầu tư xây dựng cảng Cái Cui có tổng mức phê duyệt sau cùng là 829,8 tỷ đồng, lợi nhuận đạt thấp hơn rất nhiều so với dự án được phê duyệt; dự án đầu tư xây dựng kho bãi container tại Hải Phòng có tổng mức đầu tư phê duyệt sau cùng là 352,95 tỷ đồng, dự án bị thua lỗ từ khi đưa vào khai thác.

+ Công ty con - Công ty TNHH MTV Sửa chữa tàu biển Vinalines (thuộc VINALINES): Dự án Đầu tư xây dựng Nhà máy sửa chữa tàu biển Vinalines phía Nam, có tổng mức đầu tư được duyệt sau cùng là 6.490 tỷ đồng. Dự án bắt đầu thực hiện đầu tư từ 2008, đến hết tháng 4/2017 Vinalines dã hoàn thành công tác thoái vốn và thu về một phần vốn đã đầu tư, tương đương 81,787 tỷ đồng.

+ Công ty con – Công ty TNHH MTV vận tải Biển Đông (thuộc VINALINES): Có 02 dự án đóng mới tàu container, tổng mức đầu tư được duyệt sau cùng là 1.140,66 tỷ đồng. 02 dự án hiện đang lỗ kéo dài từ năm 2009 đến nay, với tổng số lỗ luỹ kế là 1.608 tỷ đồng.

Kết luận: Như vậy, tính đến thời điểm 25/8/2017, theo báo cáo của các Bộ, ngành có 43 dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả tập trung vào các nhóm như sau:

- Nhóm dự án có tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng so với mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt: 8 dự án, tổng mức đầu tư phải điều chỉnh là 15.464 tỷ đồng (chiếm 36% trong tổng mức đầu tư 42.744 tỷ đồng của các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả)

- Nhóm dự án đầu tư dở dang, tạm ngừng hoạt động: 18 dự án. Tập trung chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản (5 dự án, tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng là 2.788 tỷ đồng), nông nghiệp (13 dự án, tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng khoảng 900 tỷ đồng).

- Nhóm dự án đầu tư đã đi vào hoạt động nhưng không đảm bảo công suất thiết kế, không bù đắp được chi phí vận hành; chi phí sản xuất thực tế cao hơn chi phí sản xuất theo tính toán khi thiết kế dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi); thời gian lỗ thực tế kéo dài hơn thời gian lỗ kế hoạch: 21 dự án.

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả tại doanh nghiệp do các Bộ ngành quản lý tập trung chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản, phát triển hạ tầng (cảng biển, kho bãi), nông nghiệp (thuỷ sản, cao su, cà phê) hoặc đầu tư mới, nâng cấp, mở rộng công suất nhà máy. Ngoài ra có 8 dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả đã được thanh lý, hoặc chuyển giao, thay đổi chủ đầu tư:

2.2. Đối với báo cáo của các địa phương:

Trong số các tỉnh, thành phố thuộc Trung ương đã gửi báo cáo, có 30 địa phương báo cáo không có các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả thuộc các doanh nghiệp nhà nước do các cơ quan này là đại diện chủ sở hữu (Danh sách cụ thể tại phụ lục số 02 đính kèm).

Đối với một số dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả của địa phương cụ thể như sau:

- UBND tỉnh Điện Biên: Theo báo cáo tại Công văn số 183/BC-UBND, giai đoạn 2000-2009 Điện Biên có 01 dự án nhóm B do Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Điện Biên đầu tư (dự án xây dựng Khu nhà nghỉ hồ Uva). Tính đến 2015, dự án đã lỗ 8,169 tỷ đồng. Đến 30/10/2015, dự án đã được bán đấu giá thành công và thu về 6,75 tỷ đồng.

- UBND tỉnh Đồng Nai:

+ TCT Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai: Theo báo cáo tại Công văn số 6835/UBND-KT, TCT có 03 dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả, bao gồm: Dự án nhà máy giết mổ gia súc, gia cầm và chế biến thực phẩm; Dự án Khu liên hợp Công nông nghiệp Dofico và Dự án Khu du lịch Bửu Long.

+ Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết và dịch vụ tổng hợp Đồng Nai: Có 01 Dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả là dự án đầu tư xây dựng Xí nghiệp In Đồng Nai. Dự án hiện đã tạm dừng triển khai do Xí nghiệp In hoạt động thua lỗ 03 năm liên tiếp.

- UBND tỉnh Hà Tĩnh: Theo báo cáo tại Công văn số 3939/UBND-KT1, tỉnh Hà Tĩnh có 01 dự án đầu tư của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn là Dự án xây dựng Nhà máy chế biến gỗ (tổng mức đầu tư được phê duyệt là 16,318 tỷ đồng, dự án đã dừng thực hiện từ năm 2014).

- UBND TP Hải Phòng: Theo báo cáo tại Công văn số 3870/UBND-ĐMDN, TP Hải Phòng có 04 Dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả bao gồm 03 dự án đang sản xuất, vận hành và 01 dự án dừng hoạt động đều của Công ty Chế biến thuỷ sản xuất khẩu Hải Phòng (tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng khoảng 110 tỷ đồng), cụ thể như sau:

+ Đối với nhóm dự án đang sản xuất vận hành, là các dự án trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản (bao gồm 02 Dự án là Dự án Đầu tư nuôi tôm công nghiệp thí điểm tại Xí nghiệp nuôi trồng thuỷ sản Kiến Thụy; Dự án Đầu tư xây dựng khu nuôi tôm công nghệ cao) và 01 dự án phục vụ hậu cần nghề cá (Dự án Đầu tư xây dựng khu neo đầu tàu thuyền và khu dịch vụ hậu cần Bến cá Ngọc Hải – Đồ Sơn).

+ Đối với dự án tam dừng hoạt động là Dự án nuôi tôm thương phẩm.

- UBND tỉnh Quảng Ninh: Theo báo cáo tại Công văn số 103/BC-UBND, tỉnh Quảng Ninh có 02 Dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp (Dự án đầu tư xây dựng nhà máy ván sợi MDF của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Hoành Bồ) và lĩnh vực nông nghiệp (Dự án đầu tư trồng cây ăn quả của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều).

- UBND tỉnh Tiền Giang: Theo báo cáo tại Công văn số 1197/SKHĐT-KTN, tỉnh Tiền Giang có 02 dự án đầu tư có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả của Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết và Công ty TNHH MTV Cấp nước Tiền Giang đầu tư trong lĩnh vực cấp nước sạch (Dự án xây dựng Nhà máy nước Đồng Tâm do Công ty TNHH MTV) và kinh doanh bất động sản (Góp vốn vào CTCP Du lịch Mê kông – Mỹ Tho để xây dựng khách sạn 4 sao Golf - Mỹ Tho của Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Tiền Giang).

- UBND tỉnh Vĩnh Long: Theo báo cáo tại Công văn số 186/BC-UBND, tỉnh Vĩnh Long có 01 dự án đầu tư có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả của Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Vĩnh Long đầu tư trong lĩnh vực bất động sản (góp vốn xây dựng dự án khách sạn Sài Gòn – Vĩnh Long). Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 150 tỷ đồng (Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Vĩnh Long góp 66,67% vốn), hiện đang đầu tư dở dang, chưa hoàn thành.

- UBND tỉnh Đắk Nông: Theo báo cáo tại Công văn số 4355/UBND-KTKH, tỉnh Đắk Nông có 05 dự án đầu tư có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Nam Tây Nguyên (3 dự án) và Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đắk Wil (2 dự án) với tổng mức đầu tư là 288 tỷ đồng. Cả 5 dự án này đã tạm ngừng hoạt động.

Kết luận: Như vậy, tính đến thời điểm 25/8/2017, theo báo cáo của các địa phương có 21 dự án  có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả tập trung vào các nhóm như sau:

- Số dự án có tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng so với mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt: 4 dự án.

- Số dự án tạm dừng hoạt động hoặc đầu tư dở dang, chưa đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng kế hoạch đầu tư: 10 dự án.

- Số dự án đầu tư đã đi vào hoạt động nhưng không đảm bảo công suất thiết kế, không bù đắp được chi phí vận hành; chi phí sản xuất thực tế cao hơn chi phí sản xuất theo tính toán khi thiết kế dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi); thời gian lỗ thực tế kéo dài hơn thời gian lỗ kế hoạch: 7 dự án.

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả tại các địa phương tập trung chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản, phát triển hạ tầng (khu công nghiệp), nông nghiệp (thuỷ sản, lâm nghiệp).

Ngoài ra có 2 Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Tiền Giang và Xổ số kiến thiết Vĩnh Long đang thực hiện đầu tư vào các dự án bất động sản, xây dựng nhà máy không phải là ngành nghề kinh doanh chính hoặc ngành nghề kinh doanh liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính với tổng mức đầu tư được phê duyệt khoảng 535 tỷ đồng. Đây là các lĩnh vực đầu tư không phù hợp với quy định tại Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015”.

2.3. Đối với báo cáo của các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước:

a. Tập đoàn kinh tế:

- Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG): Theo báo cáo tại Công văn số 461/HĐTVCSVN-KHĐT, giai đoạn từ năm 2000 đến 2016, VRG và các công ty con đầu tư 263 dự án (45 dự án nhóm A, 143 dự án nhóm B, 75 dự án nhóm C hoặc dự án khác có quy mô dưới 15 tỷ đồng), tổng vốn đầu tư được phê duyệt khoảng 17.792 tỷ đồng. Các dự án đầu tư trong giai đoạn 2000-2016 đều đạt hiệu quả, đảm bảo công suất thiết kế, doanh thu và lợi nhuận hàng năm của Tập đoàn đều tăng trưởng.

- Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT): Theo báo cáo tại Công văn số 3599/VNPT-KHĐT, VNPT không có các dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả theo hướng dẫn tại Công văn số 4917/BKHĐT-PTDN. Tuy nhiên, VNPT đang vận hành Dự án Phóng vệ tinh viễn thông VINASAT-2 được Thủ tướng Chính phủ thông qua chủ trương đầu tư nhằm phục vụ chiến lược dài hạn phát triển dịch vụ kinh doanh vệ tinh, bảo vệ nguồn tài nguyên vị trí quỹ đạo Việt Nam. Dự án có tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng là 5.462 tỷ đồng, được đưa vào vận hành từ năm 2012, tỷ lệ lấp đầy tại thời điểm hiện tại mới đạt 30%. Tính từ năm 2012 đến 2016, dự án lỗ 1.209 tỷ đồng.

b. Tổng công ty nhà nước:

- Tổng công Giấy Việt Nam (Vinapaco): Theo  báo cáo tại Công văn số 155CV-GVN.HN, hiện nay Vinapaco có 8 dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả, bao gồm: 03 dự án sản xuất bột giấy (Dự án xưởng bột giấy khử mực giấy tissue Sông Đuống, Dự án Nhà máy bột giấy Phương Nam và Dự án Nhà máy bột giấy Thanh Hóa); 01 dự án mở rộng nhà máy (Dự án Mở rộng giấy Bãi Bằng giai đoạn 2); 01 dự án xây dựng mới nhà máy (Dự án Nhà máy chế biến gỗ Bãi Bằng); 01 dự án chuyển tiếp (Dự án đầu tư Bãi xếp nguyên liệu); 01 dự án trồng rừng nguyên liệu (Dự án trồng rừng nguyên liệu giấy KonTum). Tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng của 8 dự án này là 11.081 tỷ đồng (chiếm 26% trong tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng là 42.744 tỷ đồng của các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả)

Kết luận: Như vậy, tính đến thời điểm 25/8/2017, theo báo cáo của các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có 8 dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả theo thứ tự ưu tiên như sau:

- Số dự án có tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng so với mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt: 2 dự án.

- Số dự án tạm dừng hoạt động hoặc đầu tư dở dang, chưa đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng kế hoạch đầu tư: 6 dự án.

Các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả tại các Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam và Tổng công ty Giấy Việt Nam  tập trung chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng, mở rộng, nâng cấp công suất nhà máy.

2.4. Đánh giá chung

Theo báo cáo của các Bộ, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, nhìn chung các dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả là thời gian đầu tư kéo dài nhiều năm, phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, dự án đi vào hoạt động nhưng không đảm bảo công suất thiết kế, thua lỗ kéo dài…; tập trung chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản, phát triển hạ tầng, nông nghiệp và ở các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty lớn là chính. Cụ thể như sau:

- Lĩnh vực bất động sản, phát triển hạ tầng, đầu tư, mở rộng nhà máy: Có 14 dự án thuộc Tổng công ty Thành An, Tổng Công ty Thái Sơn (Bộ Quốc phòng), Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải), Tổng công ty Giấy Việt Nam (Bộ Công Thương). Các dự án này tuy ít về số lượng (chiếm 28% trong tổng số 72 dự án), nhưng tổng mức đầu tư rất cao, trên 29.000 tỷ đồng (chiếm khoảng 68% trong tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng là 42.744 tỷ đồng của các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả).

Nguyên nhân chính là do năng lực chủ đầu tư yếu kém trong quá trình đề xuất, lập, thẩm định, triển khai và quản lý dự án, dẫn đến tình trạng đầu tư kéo dài nhiều năm (có dự án kéo dài trên 10 năm), phải điều chỉnh tổng mức đầu tư (14/14 dự án này phải điều chỉnh tổng mức đầu tư). Một số cơ quan quản lý chặt chẽ doanh nghiệp như Bộ Quốc phòng cũng có doanh nghiệp có dự án đầu tư không hiệu quả (5/5 dự án bất động sản với tổng mức đầu tư khoảng 2.900 tỷ đồng là của các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng). Ngoài ra 7/14 dự án (50% số dự án) nêu trên là các dự án đầu tư mới hoặc mở rộng nhà máy sản xuất thuộc 1 doanh nghiệp là Tổng công ty Giấy Việt Nam (Bộ Công Thương) với tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng khoảng 11.081 tỷ đồng (chiếm 26% trong tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng là 42.744 tỷ đồng của các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả).

- Lĩnh vực nông nghiệp: Có 33 dự án đang trong tình trạng tạm dừng hoạt động hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ kéo dài, chủ yếu thuộc Tổng công Lương thực Miền Nam, Tổng công ty Cà phê (Bộ NN&PTNT) và UBND TP. Hải Phòng.  

Nguyên nhân các dự án này phải tạm dừng hoạt động, hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ kéo dài do năng lực của chủ đầu tư còn nhiều hạn chế, yếu kém trong công tác lập, triển khai và quản lý dự án; trong công tác dự báo biến động của thị trường nông sản trong nước và thế giới. Ngoài ra, lĩnh vực nông nghiệp có suất đầu tư cao, thời gian đầu tư dài, tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn dài; phải chịu nhiều rủi ro về thiên tai, rủi ro về môi trường hoặc bệnh tật. Các dự án ra đời trong giai đoạn ngành nông nghiệp phải đối mặt với nhiều thách thức, cạnh tranh gay gắt. Trong khi về thị trường tiêu thụ chưa kịp mở rộng, sản lượng bán ra thấp, chi phí cao, giá thành cao, kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế, dẫn đến lỗ phát sinh kéo dài.

Tóm lại, nguyên nhân dẫn đến tình trạng các dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả như sau:

- Công tác lập dự án còn nhiều yếu kém. Các yếu tố đầu vào, đầu ra, thiết bị công nghệ, giá cả, lãi suất chưa được dự báo, đánh giá chính xác, không sát với tình hình và thực tế thị trường.

- Công tác thẩm định, phê duyệt dự án còn nhiều hạn chế. Cơ chế, quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan tham gia trong quá trình thẩm định, phê duyệt dự án chưa cụ thể, rõ ràng; năng lực thực hiện yếu kém.

- Năng lực và trách nhiệm quản lý dự án của các chủ đầu tư còn hạn chế, yếu kém ở hầu hết các khâu gồm: lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư; tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu có năng lực, kinh nghiệm thi công dự án; đàm phán ký kết hợp đồng với các nhà thầu; quản lý giám sát, xử lý phát sinh, vướng mắc tại công trường; nghiệm thu vận hành, chạy thử, bàn giao đưa vào sử dụng.

- Công tác đàm phán, ký kết hợp đồng với các nhà thầu nước ngoài còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm, đặc biệt là đối với các dự án có công nghệ hiện đại dẫn đến phát sinh các tranh chấp, vướng mắc khó giải quyết.

- Công tác quản lý, tổ chức sản xuất còn thiếu hiệu quả do năng lực và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ quản lý còn hạn chế; chưa chủ động trong kế hoạch đào tạo nguồn lao động để điều hành; chưa chủ động trong tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm. Đội ngũ công nhân lao động kỹ thuật tay nghề chưa cao và chưa có nhiều kinh nghiệm.

- Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá đầu tư đối với các dự án của các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa thường xuyên, sâu sát, dẫn tới không kịp thời phát hiện, xử lý các khó khăn, vướng mắc.

- Tác động của diễn biến tỷ giá, lãi suất nằm ngoài dự tính ban đầu, cộng thêm tình trạng tiến độ kéo dài của dự án càng làm trầm trạng hơn tác động này.

3. Kiến nghị:

Tính đến thời điểm 25/8/2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới chỉ nhận được báo cáo của 12 Bộ ngành, 37 địa phương, 02 Tập đoàn kinh tế, 09 Tổng công ty nhà nước. Theo đó, số lượng doanh nghiệp nhà nước do các cơ quan này làm đại diện chủ sở hữu đã được rà soát đánh giá tình hình đầu tư các dự án từ giai đoạn 2000 đến 2016 khoảng 250 doanh nghiệp. Nếu so với tổng số doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện rà soát, báo cáo mới chỉ chiếm 31,25% tổng số doanh nghiệp (250 doanh nghiệp/800 doanh nghiệp phải thực hiện rà soát, báo cáo; có tính đến các công ty con do công ty mẹ là Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ). Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận thấy đây là một tỷ lệ rất thấp, không đảm bảo được yêu cầu về chất lượng để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Căn cứ trên các báo cáo của Bộ, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị Thủ tướng Chính phủ một số vấn đề sau:

a. Kiến nghị chung:

- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân (người đại diện phần vốn nhà nước, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp)  trong việc quyết định chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án... tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

- Sớm hình thành Cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhằm quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc quyết định chủ trương đầu tư, thực hiện dự án dẫn tới sai phạm, thua lỗ, thất thoát, mất vốn nhà nước.

- Chỉ đạo các Bộ, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước chưa thực hiện việc gửi báo cáo theo nội dung Công văn số 4917/BKHĐ-PTDN khẩn trương hoàn thiện việc xây dựng danh mục các dự án đầu tư có dấu hiệu không hiệu quả và gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước ngày 30/9/2017 để tiếp tục tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ

- Định kỳ, giao cơ quan có chức năng thực hiện việc tổng hợp, báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước, nhất là các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước nắm giữ các nguồn lực lớn về đất đai, tài nguyên, vốn của nhà nước.

- Làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan, đề ra các giải pháp để giải quyết dứt điểm các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả, nhằm lành mạnh hóa tài chính và cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, góp phần hoàn thành việc sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

- Khi đề xuất hoặc triển khai thực hiện các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước phải gắn cụ thể với trách nhiệm của người đại diện vốn tại doanh nghiệp nhà nước và Ban điều hành (Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị) để đảm bảo tính hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư.

- Khi thực hiện đầu tư phải thực hiện công khai, minh bạch và đầu thầu rộng rãi để lựa chọn được tư vấn có chất lượng trong các khâu lập dự án, thẩm định dự án, triển khai thực hiện dự án, quản lý dự án....; Khi triển khai thực hiện dự án đầu tư phải tuân thủ đầy đủ các quy định hiện hành của pháp luật về đầu tư, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đấu thầu...

- Tiếp tục khẩn trương xây dựng các báo cáo rà soát các dự án có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước và gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, nghiên cứu đề ra các giải pháp khắc phục, xử lý các dự án đầu tư đang thực hiện không hiệu quả theo nguyên tắc và cơ chế thị trường, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định.

- Thực hiện công tác đầu tư bảo đảm phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp, tập trung đầu tư vào ngành nghề kinh doanh chính, tránh phân tác nguồn lực. Xây dựng bộ máy chuyên nghiệp để thực hiện công tác đầu tư tại doanh nghiệp dưới hình thức Ban quản lý chuyên ngành trên cơ sở xem xét, nghiên cứu và điều chỉnh để có thể áp dụng linh hoạt, hiệu quả, phù hợp với mô hình của từng loại hình doanh nghiệp.

- Nghiên cứu, xây dựng chế tài quy định trách nhiệm của đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị thẩm tra thiết kế trong công tác lập dự án, hồ sơ thiết kế.

b. Đối với một số nhóm ngành cụ thể:

- Đối với nhóm dự án đầu tư thuộc lĩnh vực xây dựng bất động sản: Thực hiện việc thoái vốn hoặc chuyển nhượng phần vốn góp tại các dự án đầu tư bất động sản theo nguyên tắc thị trường và bảo đảm không thất thoát vốn đầu tư.

- Đối với nhóm dự án đầu tư thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng (cảng biển, khu công nghiệp…): Nghiên cứu tìm kiếm nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước để hình thành các doanh nghiệp dự án thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng. Trong trường hợp không có nhà đầu tư quan tâm thì thực hiện quyết toán dự án và chuyển giao cho các đơn vị đủ năng lực thực hiện.

- Đối với nhóm dự án đầu tư thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản: Nghiên cứu chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo hình thức liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Tiếp nhận, chuyển giao và cập nhật các bộ giống phù hợp với từng vùng sinh thái, cho năng suất cao so với giống hiện hành. Xây dựng quy trình kỹ thuật đồng bộ và chuyên biệt cho từng vùng sinh thái đối với hoạt động đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản với mục tiêu chi phí đầu tư phù hợp với tiềm năng năng suất. Nghiên cứu việc chuyển giao các dự án theo quy định hiện hành của Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

 

 PHỤ LỤC SỐ I

DANH SÁCH CÁC BỘ NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG, TẬP ĐOÀN KINH TẾ,
TCT NHÀ NƯỚC GỬI BÁO CÁO TÍNH ĐẾN 25/8/2017


STT

TÊN CƠ QUAN/TỔ CHỨC

Ngày nhận báo cáo

Ghi chú

I

BỘ, NGÀNH

 

 

1

Bộ Nội vụ

4/7/2017

 

2

Bộ Thông tin và Truyền thông

30/6/2017

 

3

Bộ Quốc phòng

29/6/2017

 

4

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

18/7/2017

 

5

Bộ Giáo dục và Đào tạo

11/7/2017

 

6

Bộ Giao thông vận tải

22/8/2017

 

7

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

22/8/2017

 

8

Bộ Tài chính

1/8/2017

 

9

Bộ Công an

10/8/2017

 

10

Bộ Y tế

23/8/2017

 

11

Ủy ban dân tộc

18/7/2017

 

12

Đài Truyền hình Việt Nam

30/6/2017

 

II

ĐỊA PHƯƠNG

 

 

1

Bắc Kạn

29/6/2017

 

2

Bạc Liêu

6/7/2017

 

3

Bắc Ninh

5/7/2017

 

4

Bến Tre

27/7/2017

 

5

Bình Định

25/7/2017

 

6

Bình Dương

3/7/2017

 

7

Bình Thuận

19/7/2017

 

8

Cà Mau

4/7/2017

 

9

Đắk Nông

14/8/2017

 

10

Điện Biên

17/7/2017

 

11

Đồng Nai

18/7/2017

 

12

Hà Giang

6/7/2017

 

13

Hà Nam

21/7/2017

 

14

Hà Tĩnh

6/7/2017

 

15

Hải Phòng

6/7/2017

 

16

Hưng Yên

6/7/2017

 

17

Khánh Hòa

15/8/2017

 

18

Kon Tum

20/7/2017

 

19

Lai Châu

5/7/2017

 

20

Lạng Sơn

3/7/2017

 

21

Lào Cai

26/7/2017

 

22

Long An

23/7/2017

 

23

Nam Định

8/7/2017

 

24

Ninh Bình

18/7/2017

 

25

Quảng Bình

29/6/2017

 

26

Quảng Ninh

13/7/2017

 

27

Quảng Ngãi

13/7/2017

 

28

Quảng Trị

13/7/2017

 

29

Sóc Trăng

12/7/2017

 

30

Sơn La

7/7/2017

 

31

Thanh Hóa

27/6/2017

 

32

Thái Nguyên

29/6/2017

 

33

Trà Vinh

20/7/2017

 

34

Tuyên Quang

29/6/2017

 

35

Tiền Giang

17/7/2017

 

36

Vĩnh Phúc

7/7/2017

 

37

Hậu Giang

21/8/2017

 

38

Tây Ninh

16/8/2017

 

39

Vĩnh Long

1/8/2017

 

II

TẬP ĐOÀN KINH TẾ, TỔNG CÔNG TY

 

 

1

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

18/7/2017

 

2

Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam

27/7/2017

 

3

Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam

25/7/2017

 

4

Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà
nước

7/7/2017

 

5

Tổng công ty Hàng hải Việt Nam

27/7/2017

 

6

Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam

29/6/2017

 

7

Tổng công ty Lương thực Miền Bắc

4/7/2017

 

8

Tổng công ty Lương thực Miền Nam

5/7/2017

 

9

Tổng công ty Giấy Việt Nam

28/72017

 

10

Tổng công ty Cà phê

2/8/2017

 

11

Tổng công ty Khánh Việt

12/7/2017

 

 


PHỤ LỤC SỐ II

DANH SÁCH CÁC BỘ NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG, TẬP ĐOÀN KINH TẾ,
TCT NHÀ NƯỚC KHÔNG CÓ DỰ ÁN CÓ DẤU HIỆU ĐẦU TƯ KHÔNG HIỆU QUẢ TÍNH ĐẾN 25/8/2017


STT

TÊN CƠ QUAN/TỔ CHỨC

Ngày nhận báo cáo

Ghi chú

I

BỘ, NGÀNH

 

 

1

Bộ Nội vụ

4/7/2017

 

2

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

18/7/2017

 

3

Bộ Giáo dục và Đào tạo

11/7/2017

 

4

Bộ Tài chính

1/8/2017

 

5

Bộ Công an

10/8/2017

 

6

Bộ Y tế

23/8/2017

 

7

Ủy ban dân tộc

18/7/2017

 

8

Đài Truyền hình Việt Nam

30/6/2017

 

II

ĐỊA PHƯƠNG

 

 

1

Bắc Kạn

29/6/2017

 

2

Bạc Liêu

6/7/2017

 

3

Bắc Ninh

5/7/2017

 

4

Bến Tre

27/7/2017

 

5

Bình Định

25/7/2017

 

6

Bình Dương

3/7/2017

 

7

Bình Thuận

19/7/2017

 

8

Cà Mau

4/7/2017

 

10

Hà Giang

6/7/2017

 

11

Hà Nam

21/7/2017

 

12

Hưng Yên

6/7/2017

 

13

Khánh Hòa

15/8/2017

 

14

Kon Tum

20/72017

 

15

Lai Châu

5/7/2017

 

16

Lạng Sơn

3/7/2017

 

17

Lào Cai

26/7/2017

 

18

Long An

23/7/2017

 

19

Nam Định

8/7/2017

 

20

Ninh Bình

18/7/2017

 

21

Quảng Bình

29/6/2017

 

22

Quảng Ngãi

13/7/2017

 

23

Quảng Trị

13/7/2017

 

24

Sóc Trăng

12/7/2017

 

25

Sơn La

7/7/2017

 

26

Thanh Hóa

27/6/2017

 

27

Thái Nguyên

29/6/2017

 

28

Trà Vinh

20/7/2017

 

29

Tuyên Quang

29/6/2017

 

30

Vĩnh Phúc

7/7/2017

 

31

Hậu Giang

21/8/2017

 

32

Tây Ninh

16/8/2017

 

II

TẬP ĐOÀN KINH TẾ, TỔNG CÔNG TY

 

 

1

Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam

27/7/2017

 

2

Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà
nước

7/7/2017

 

3

Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam

29/6/2017

 

4

Tổng công ty Lương thực Miền Bắc

4/7/2017

 

5

Tổng công ty Khánh Việt

12/7/2017

 

 

                                                                                 PHỤ LỤC SỐ III

DANH SÁCH CÁC BỘ NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG, TẬP ĐOÀN KINH TẾ,
CHƯA GỬI BÁO CÁO TÍNH ĐẾN 25/8/2017


STT

TÊN CƠ QUAN/TỔ CHỨC

I

BỘ, NGÀNH

1

Bộ Công Thương

2

Bộ Xây dựng

3

Bộ Tài nguyên và Môi trường

4

Bộ Khoa học và Công nghệ

5

Ngân hàng Nhà nước

6

Văn phòng Chính phủ

7

Thanh tra Chính phủ

8

Đài Tiếng nói Việt Nam

9

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

10

Thông tấn xã Việt Nam

11

Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam

12

Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

II

ĐỊA PHƯƠNG

1

An Giang

2

Bà Rịa - Vũng Tàu

3

Bắc Giang