Thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước là một trong những phương thức để thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước nhằm sắp xếp lại, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Dù đã đạt được những kết quả nhất định, song nhìn chung tiến độ thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước còn chậm, cần nhiều giải pháp tích cực, đồng bộ để tháo gỡ vướng mắc.

1. Căn cứ thực hiện thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2017-2020

Năm 2016, Chính phủ đề ra nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về tái cơ cấu DNNN cho phù hợp với các luật mới ban hành nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát DN.

Ngày 28/12/2016, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg về tiêu chí phân loại DNNN, DN có vốn nhà nước và danh mục DNNN thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016 - 2020. Trên cơ sở tiêu chí phân loại quy định tại Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 17/8/2017 phê duyệt danh mục DN có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn gia đoạn 2017-2020.

Năm 2018, năm 2019 một số văn bản được Chính phủ ban hành nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho việc triển khai thực hiện thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp gồm: Nghị định số 32/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp; Thông tư số 40/2018/TT-BTC ngày 04/5/2018 của Bộ Tài chính và Thông tư số 41/2018/TT-BTC ngày 04/5/2018 của Bộ Tài chính.

Nhằm điều chỉnh danh sách và lộ trình doanh nghiệp thực hiện thoái vốn phù hợp với thực tiễn, ngày 29/6/2020, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định 908/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn đến hết năm 2020 để thay thế Quyết định 1232/QĐ-TTg.

2. Tình hình thực hiện thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2017-12/2020:

2.1. Tính hình thực hiện thoái vốn theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg:

Theo kế hoạch phê duyệt tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg, trong năm 2017, các Bộ, địa phương phải hoàn thành thoái vốn tại 131 doanh nghiệp, năm 2018 là 126 doanh nghiệp, năm 2019 là 57 doanh nghiệp, năm 2020 là 26 doanh nghiệp.

Kết quả thực hiện thoái vốn theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg đến hết tháng 5/2020: Thoái vốn nhà nước tại 98 đơn vị thuộc Quyết định số 1232/QĐ-TTg. Như vậy, việc triển khai thoái vốn nhà nước theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg còn chậm, những đơn vị còn nhiều doanh nghiệp phải thực hiện thoái vốn theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg với giá trị lớn là: Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng (còn phải thoái vốn tại 8/11 Tổng công ty cổ phần); Thành phố Hà Nội (còn phải thoái vốn tại 31/34 doanh nghiệp).

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp theo các Báo cáo của Bộ KH&ĐT và Bộ TC

* Về kết quả thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cấp nước:

Trong giai đoạn này, tình hình thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cấp nước là vấn đề được thảo luận và xem xét để xác định định hướng thực hiện sắp xếp doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này trong giai đoạn tiếp theo.

 Tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg về phê duyệt danh sách thực hiện thoái vốn nhà nước đã phê duyệt 58 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cấp, thoát nước thuộc các Bộ, địa phương thực hiện thoái vốn.

Tính đến 24/5/2020, trong số 58 doanh nghiệp này bao gồm 02 doanh nghiệp hoàn thành chuyển giao về SCIC theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg và Chỉ thị số 01/CT-TTg; 17 doanh nghiệp hoàn thành thoái vốn nhà nước theo tỷ lệ và kế hoạch phê duyệt tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg; 09 doanh nghiệp đã thoái một phần vốn theo kế hoạch. Tỷ lệ hoàn thành thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong lĩnh vực này theo kế hoạch phê duyệt là 29%.

Trong số 17 doanh nghiệp đã hoàn thành thoái vốn: có 07 doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục duy trì vốn góp trên 51%, 06 doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục duy trì vốn góp trên 36% và 04 doanh nghiệp Nhà nước không còn duy trì vốn góp (Cụ thể gồm: Công ty cổ phần Cấp nước Bình Phước; Công ty cổ phần Cấp nước và Phát triển đô thị Đắk Nông; Công ty cổ phần Cấp nước Cửa Lò; Công ty cổ phần Cấp nước Ninh Bình)

 Qua rà soát 54 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cấp, thoát nước do Nhà nước duy trì vốn góp thuộc 47 UBND địa phương theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg cho thấy: có 40 doanh nghiệp Nhà nước duy trì vốn góp trên 51%, 14 doanh nghiệp Nhà nước duy trì vốn góp trên 36%.

Căn cứ trên thực tiễn việc thực hiện thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cấp thoát nước còn có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau giữa các cơ quan đại diện chủ sở hữu, tại Quyết định số 908/QĐ-TTg ngày 29/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã quy định dừng thoái vốn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cấp nước trong năm 2020 để đánh giá, nghiên cứu phương án sắp xếp, thoái vốn các doanh nghiệp này trong giai đoạn 2021-2025 để phù hợp với thực tiễn.

2.2. Tình hình thực hiện thoái vốn theo Quyết định số 908/QĐ-TTg:

Tại Quyết định số 908/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh sách doanh nghiệp do cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện thoái vốn đến hết năm 2020 gồm 120 doanh nghiệp. Ngoài ra, có 4 doanh nghiệp do cơ quan đại diện chủ sở hữu thoái vốn trước ngày 30/11/2020; không hoàn thành thoái vốn thì hoàn thành chuyển giao về SCIC trước 31/12/2020 (4 doanh nghiệp này đều là các Tổng công ty thuộc Bộ Xây dựng, gồm: Tổng công ty Cổ phần Sông Hồng, Tổng công ty Xây dựng Hà Nội - Công ty Cổ phần, Tổng công ty Xây dựng số 1 - Công ty Cổ phần, Tổng công ty Đầu tư Phát triển đô thị và khu công nghiệp Việt Nam (IDICO).

Bên cạnh đó, có 14 doanh nghiệp chuyển giao về SCIC để thực hiện thoái vốn, hoàn thành chuyển giao trước 31/8/2020 (gồm một số doanh nghiệp quy mô lớn là Tổng công ty Cổ phần xây dựng công nghiệp Việt Nam (Bộ Công Thương), Công ty Cổ phần Xây dựng và Nhập khẩu Tổng hợp (Bộ Công Thương), Công ty Cổ phần Nông thổ sản Việt Nam (Bộ Công Thương), Tổng Công ty cổ phần Rượu - Bia - Nước giải khát Sài Gòn (Bộ Công Thương), Công ty Cổ phần Cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội))…

Rà soát đến tháng 12/2020 cho thấy, các cơ quan đại diện chủ sở hữu đã đạt được một số kết quả thực hiện quy định tại Quyết định số 908/QĐ-TTg như sau: Đã hoàn thành chuyển giao phần vốn nhà nước tại 07 Tổng công ty (01 đơn vị thuộc Bộ Công Thương là Tổng công ty Rượu-Bia-Nước giải khát Sài Gòn; 04 đơn vị thuộc Bộ Xây dựng là Tổng công ty Đầu tư Nước và Môi trường Việt Nam, Tổng công ty Tư vấn xây dựng Việt Nam, Tổng công ty Vật liệu xây dựng số 1, Tổng công ty Sông Đà; 02 đơn vị thuộc Bộ LĐTBXH là Công ty CP Cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại và Công ty CP Nhân lực quốc tế Sovilaco) với tổng giá trị phần vốn nhà nước chuyển giao là là 8.305,8 tỷ đồng về SCIC để thực hiện thoái vốn theo Quyết định số 908/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; và hoàn thành thoái vốn nhà nước tại 07 doanh nghiệp.

2.3. Kết quả thực hiện thoái vốn cả giai đoạn 2016-2020:

Tổng hợp cho thấy trong giai đoạn 2016-12/2020, tổng số thoái vốn luỹ kế đạt: thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp 27.275 tỷ đồng, thu về từ thoái vốn gồm 177.037 tỷ đồng. Trong đó:

- Thoái vốn nhà nước tại 105 đơn vị thuộc Quyết định số 1232/QĐ-TTg và Quyết định số 908/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với giá trị 6.492 tỷ đồng, thu về 13.582 tỷ đồng (đạt 30% về số lượng và 11% về giá trị so với kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt).

- Thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp ngoài danh mục theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg:  Đã thoái 3.785 tỷ đồng vốn nhà nước, thu về 110.392 tỷ đồng (bao gồm khoản thoái 3.436 tỷ đồng, thu về 109.965 tỷ đồng tại Sabeco).

- Các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước thực hiện thoái 16.996 tỷ đồng, thu về 53.063 tỷ đồng.

3. Nguyên nhân hạn chế, tồn tại chậm thoái vốn:

Thứ nhất, các quy định về thoái vốn có sự thay đổi và vẫn còn nhiều nội dung chưa rõ cần được hướng dẫn dẫn đến thời gian xây dựng và phê duyệt phương án thoái vốn bị chậm, phương án thoái vốn bị điều chỉnh nhiều lần. Cụ thể: Một số Bộ, địa phương phải xin ý kiến hướng dẫn của Bộ Tài Chính, Ủy ban Chứng khoán để xử lý vướng mắc về: xác định giá trị doanh nghiệp, thực hiện thủ tục chào bán cổ phần... Bên cạnh đó, có nhiều trường hợp các doanh nghiệp đang trong quá trình xây dựng và triển khai phương án thoái vốn theo quy định tại Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp thì Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP; do vậy, phải dừng thực hiện phương án thoái vốn cũ để xây dựng lại phương án thoái vốn mới theo quy định tại Nghị định số 32/2018/NĐ-CP.

Thứ hai, diễn biến khó lường của dịch bệnh Covid-19 khiến cho sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác của xã hội bị đình trệ khiến cho việc triển khai công tác thoái vốn của các doanh nghiệp gặp khó khăn. Mặc dù tình hình dịch bệnh ở trong nước đã bước đầu được kiểm soát nhưng Chính phủ vẫn đang tiếp tục thực hiện các biện pháp thận trọng trong việc mở cửa lại nền kinh tế, đồng thời tình hình dịch bệnh trên thế giới vẫn chưa có chiều hướng thuyên giảm, đặc biệt là tại các nước là đối tác, thị trường quan trọng của Việt Nam.

Thứ ba, trong quá trình thực hiện của một số Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước còn chưa thực sự nghiêm túc triển khai kế hoạch thoái vốn, cơ cấu lại DNNN theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Trong điều kiện các quy định của pháp luật có liên quan đã tương đối hoàn chỉnh thì vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp, đơn vị còn chưa cao, chưa quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp, công khai minh bạch, đúng qui định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước.

Thứ tư, quy mô thị trường chứng khoán trong nước còn chưa đủ lớn khiến khả năng hấp thụ hết toàn bộ số vốn mà DNNN thực hiện thoái vốn trong một khoảng thời gian nhất định gặp khó khăn. Mặt khác, thị trường phát triển chưa bền vững nên giá cổ phiếu trên thị trường tăng giảm bất thường, dẫn đến khó khăn cho việc thoái vốn.

Thứ năm, một số DNNN không muốn thoái khỏi những ngành, lĩnh vực phát triển hiệu quả, có tỷ suất sinh lời cao làm cho tiến độ thoái vốn chậm lại.

4. Một số kiến nghị thúc đẩy việc thực hiện thoái vốn trong thời gian tới:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách, cụ thể:

- Sửa đổi, bổ sung quy định để mở rộng thêm các phương thức thoái vốn khác như đấu giá thông thường, hoặc bán cả lô vốn nhà nước tại công ty đại chúng niêm yết nhưng không thấp hơn biên độ giá giao dịch tại thời điểm bán; quy định về định giá khởi điểm đối với phần vốn nhà nước trước khi tổ chức bán theo phương thức giao dịch khớp lệnh trên sàn niêm yết.

- Ban hành quy định về xử lý đất đai đối với DN quản lý nhiều đất đai ở những vị trí có lợi thế thương mại cao.

- Tiếp tục thúc đẩy việc tách biệt chức năng sở hữu DNNN với chức năng quản lý nhà nước.

Thứ hai, rà soát diện tích đất của các DNNN, hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 

        Thứ ba, tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước trong việc thực hiện phương án thoái vốn đã được phê duyệt. Người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo quyết liệt trong việc triển khai công tác thoái vốn DNNN theo kế hoạch đã đề ra, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả triển khai công tác cơ cấu lại DNNN, chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ khi không hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ đã giao.
Bùi Thái Phú - Phòng DNNN - Cục Phát triển doanh nghiệp
Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article