Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong thời gian qua vẫn được xem là công cụ để điều tiết nền kinh tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và chính sách an sinh xã hội. Vấn đề đặt ra là trong giai đoạn tới, Nhà nước tiếp tục định vị DNNN ở đâu và cần có các thay thế cơ chế chính sách gì để đạt được các mục tiêu, quan điểm về vai trò và vị trị của DNNN.

1. Vai trò, vị trí hiện nay của DNNN

Theo định hướng chung tại Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN: DNNN là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. DNNN tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư.

DNNN hoạt động chủ yếu trong những lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân không làm được, hoặc đóng vai trò dẫn dắt, khai phá những lĩnh vực quan trọng đối với nền kinh tế như điện lực, năng lượng, an ninh, quốc phòng, cảng biển, sân bay…Đồng thời, các doanh nghiệp nhà nước cũng có các hoạt động cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ nguyên tắc thị trường, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.

Theo số liệu báo cáo từ các cơ quan đại diện chủ sở hữu (các Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), tính đến thời điểm kết thúc năm tài chính 2019, có 491[1] DNNN kinh doanh thông thường có báo cáo. Trong đó: (i) Có 06 tập đoàn kinh tế (TĐ); (ii) Có 55 tổng công ty nhà nước (TCT)[2]; (iii) Có 15 Công ty TNHH MTV hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - công ty con (Công ty mẹ - con); (iv) Có 415 Công ty TNHH MTV độc lập thuộc Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (doanh nghiệp độc lập).

 Qua phân tích, đánh giá số liệu từ báo cáo của các Bộ quản lý ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (số liệu báo cáo tài chính hợp nhất), Bộ Tài chính đã tổng hợp tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2019 của 491 DNNN cụ thể như sau:

- Tổng tài sản của các DNNN là 2.992.834 tỷ đồng, tăng 3% so với thực hiện năm 2018. Tỷ trọng tài sản cố định bình quân chiếm 38% tổng tài sản. Trong đó khối các TĐ,TCT, Công ty mẹ - con có tổng tài sản là 2.738.533 tỷ đồng, chiếm 92% tổng tài sản; các Công ty TNHH MTV độc lập còn lại chiếm 8% tổng tài sản.

- Vốn chủ sở hữu của các DNNN là 1.425.050 tỷ đồng, tăng 4% so với thực hiện năm 2018. Trong đó, khối các TĐ,TCT, Công ty mẹ - con là 1.274.356 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2018, chiếm 89% tổng vốn chủ sở hữu.

- Tổng Doanh thu của các DNNN đạt 1.656.124 tỷ đồng, tăng 7% so với thực hiện năm 2018.

- Lãi phát sinh trước thuế của các DNNN đạt 162.750 tỷ đồng, giảm 2% so với thực hiện 2018.

- Tỷ suất Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp/Vốn chủ sở hữu bình quân chung của các DNNN năm 2019 là 11% (năm 2018 là 12%).

- Tổng số phát sinh phải nộp ngân sách nhà nước (NSNN) của các DNNN là 283.000 tỷ đồng, tăng 7% so với thực hiện năm 2018, chủ yếu thu từ hoạt động kinh doanh nội địa (chiếm 73% tổng số phát sinh phải nộp NSNN của các DNNN).

Biểu 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN giai đoạn 2016 – 2019 (số liệu báo cáo của Công ty mẹ)

 

         Nguồn: Báo cáo số 496/BC-CP ngày 10/10/2020 của Bộ Tài chính

          Theo kết quả tổng hợp nêu trên thì các chỉ tiêu về tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2019 của các DNNN đạt được mục tiêu tăng trưởng, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tập trung nguồn lực tài chính tái đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời góp phần phát triển kinh tế, tăng thu cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho người lao động.

Như vậy, hiện nay, DNNN đã khẳng định vai trò, vị thế của mình trong các thành phần kinh tế. Do bản chất và mục đích hoạt động, nên DNNN có vai trò chính trị - xã hội to lớn, luôn tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đóng vai trò quan trọng trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, như viễn thông, than, điện, xăng dầu, khai khoáng, tài chính, ngân hàng và các dịch vụ công thiết yếu bảo đảm nhu cầu tiêu dùng, sản xuất trong nước và xuất khẩu.

DNNN vừa là chủ thể kinh doanh, vừa là lực lượng kinh tế nòng cốt do Nhà nước sử dụng trong tác động tham gia các hoạt động kinh tế. Là chủ thể kinh doanh, các DNNN phải thực hiện hạch toán kinh tế, tự chủ về tài chính, hoạt động có hiệu quả để bảo đảm quá trình tái sản xuất mở rộng, bảo đảm gia tăng nguồn lực kinh tế mà Nhà nước đã đầu tư cho các doanh nghiệp này. Là lực lượng tham gia các hoạt động kinh tế như một công cụ của Nhà nước, các DNNN cần góp phần tạo ra sự ổn định kinh tế - xã hội, giúp Nhà nước đạt được các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội.

Nhìn lại những năm qua, khi kinh tế thế giới suy thoái, thiên tai, dịch bệnh hoành hành, nhờ có sức mạnh của DNNN mà Việt Nam mới bảo đảm cân đối vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, góp phần kiềm chế lạm phát, duy trì mức tăng trưởng khá cao. Cùng với tăng trưởng kinh tế, DNNN còn đóng góp tích cực vào việc bảo đảm an sinh xã hội, phát triển các lĩnh vực y tế, giáo dục, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, an ninh - quốc phòng, chủ quyền quốc gia, góp phần nâng cao vị thế của đất nước ở khu vực và trên thế giới...

2. Tồn tại, hạn chế trong hoạt động của DNNN

Mặc dù nắm trong tay nguồn lực lớn mạnh của Nhà nước, hoạt động của DNNN vẫn tồn tại những hạn chế và chưa phát huy hiệu quả của thành phần kinh tế này, kéo theo sự sụt giảm hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Có thể kể đến một số hạn chế sau:

Một là, hiệu quả hoạt động của DNNN sau quá trình sắp xếp, đổi mới chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ, năng lực hoạt động và cạnh tranh của nhiều DNNN còn hạn chế. So sánh với khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân, khu vực DNNN tiếp tục có xu hướng giảm dần quy mô và tỷ lệ đóng góp ở tất cả các chỉ tiêu trong giai đoạn 2016-2018. Khu vực DNNN đang có chỉ số nợ cao nhất trong các loại hình doanh nghiệp. DNNN chỉ hoạt động hiệu quả ở các ngành, lĩnh vực có lợi thế tự nhiên (khai thác khoáng sản, dầu khí) hoặc thống lĩnh thị trường do lịch sử để lại (như viễn thông, tài chính tín dụng).

Đa số DNNN không đạt mức tỷ suất lợi nhuận trung bình của khu vực DNNN (do có tới 70% lợi nhuận của khối này là do các tập đoàn, tổng công ty lớn làm ra). Trong đó, những ngành có lợi thế tự nhiên hoặc độc quyền tự nhiên (khai thác dầu mỏ, khoáng sản, điện) hoặc thống lĩnh thị trường do yếu tố lịch sử (như trong lĩnh vực viễn thông, tài chính tín dụng) thì có hiệu quả hơn so với các DNNN khác. Các chỉ tiêu tài chính như lợi nhuận, thu nộp ngân sách đều đến từ các ngành, lĩnh vực độc quyền hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt là thuế tài nguyên). Tuy nhiên, đối với các ngành, lĩnh vực cần có yếu tố đổi mới, công nghệ khoa học (như các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo) thì mức độ cạnh tranh còn thấp hơn so với các khu vực doanh nghiệp khác. Cụ thể, tỷ trọng doanh thu và tài sản của DNNN thấp hơn niều so với các doanh nghiệp khu vực FDI và tư nhân trong cùng ngành, thể hiện ở biểu sau:


Nguồn: Tổng cục Thống kê


Nguồn: Tổng cục Thống kê

Hai là, DNNN chưa thực hiện được vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế. Trong các ngành, lĩnh vực có tính chiến lược nền kinh tế, DNNN chiếm thị phần lớn hoặc chi phối nhưng chưa quan tâm đầu tư vào các ngành, lĩnh vực có ảnh hưởng quyết định đến việc tạo động lực, hỗ trợ nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và của khu vực doanh nghiệp Việt Nam (như các ngành công nghệ cao, có tính chất lan tỏa hoặc có khả năng dẫn dắt chuyển đổi cơ cấu kinh tế). Vai trò của DNNN trong dẫn dắt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp ngoài nhà nước, thúc đẩy liên kết, hình thành chuỗi giá trị gia tăng hầu như chưa thực hiện được. Phần lớn các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn hoạt động trong ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn đều vận hành theo cơ chế tương đối khép kín, chưa khuyến khích các doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia vào các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.

Ba là, DNNN chưa xác định được trọng tâm và thứ tự ưu tiên trong chức năng, nhiệm vụ, sự đan xen giữa giữa mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu phi lợi nhuận, giữa mục tiêu chính trị xã hội với mục tiêu kinh tế, mục tiêu cạnh tranh và mục tiêu hỗ trợ. Đặc biệt là các tập đoàn kinh tế (như điện lực, dầu khí), bên cạnh các yếu tố cạnh tranh thì còn phải thực hiện các nhiệm vụ chính trị (kéo điện về vùng sâu, vùng xa; hỗ trợ xây dựng các dàn khoan ngoài biển để khẳng định chủ quyền quốc gia…), là công cụ để đảm bảo các cân đối vĩ mô của nền kinh tế, tạo nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Sự đan xen các mục tiêu này cùng với việc chưa có phương thức tính toán, lượng hóa chi phí để bù đắp đã gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp, dẫn đến bất hợp lý trong việc xác định vai trò chi phối của DNNN trong nền kinh tế thị trường. Điều này đã dẫn đến trường hợp một số DNNN đã lấy lý do thực hiện các nhiệm vụ chính trị, an sinh xã hội để biện minh cho những yếu kém trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.

Bốn là, công tác quản lý của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước chưa thật sự hiệu quả trong giai đoạn qua. Một số cơ quan đại diện chủ sở hữu và cơ quan liên quan chưa chỉ đạo kịp thời và quyết liệt, chưa tích cực tổ chức triển khai phương án cổ phần hoá. Nội dung thực hiện tách bạch quản lý của chủ sở hữu với quản lý nhà nước đối với DNNN đã được đặt ra rất lâu nhưng đến cuối năm 2019 mới thực hiện được. Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước mới hình thành, công tác nhân sự và nguồn lực phục vụ cho hoạt động của Ủy ban còn nhiều hạn chế nên nên chưa phát huy hiệu quả trong quản lý DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Kể từ khi Ủy ban Quản lý vốn nhà nước đi vào hoạt động và thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu tại 19 Tập đoàn, Tổng công ty lớn, thì Ủy ban Quản lý vốn nhà nước mới chủ yếu thực hiện công tác tiếp nhận và xử lý các công việc chuyển tiếp; chưa thật sự phát huy vai trò của mình trong việc đưa ra định hướng sản xuất, kinh doanh, hình thức quản lý đối với các doanh nghiệp được chuyển giao.

Những hạn chế này này đã làm mờ nhạt vai trò của DNNN trong nền kinh tế, làm cho nền kinh tế một thời gian dài chỉ tăng trưởng chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên, thiếu tính bền vững, cạnh tranh, phụ thuộc vào nhập khẩu, máy móc, thiết bị và công nghệ của nước ngoài.

3. Định hướng, nhiệm vụ nâng cao hiệu quả đối với DNNN

Tại Nghị quyết số 12-NQ/TW đã đề ra mục tiêu tổng quát trong sắp xếp, đổi mới DNNN, đó là: “Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc tế, nhằm huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp để doanh nghiệp nhà nước giữ vững vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”.

Trong khi đó, mục tiêu đến năm 2020:

- Cơ cấu lại, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2017 - 2020 trên cơ sở các tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc các ngành, lĩnh vực. Phấn đấu hoàn thành thoái vốn tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ, tham gia góp vốn.

- Tập trung xử lý dứt điểm các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các dự án, công trình đầu tư của doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài. - Phấn đấu đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; nâng cao một bước quan trọng hiệu quả sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước.

- Hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Chậm nhất đến năm 2018, thành lập một cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.

Mục tiêu đến năm 2030

- Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu sở hữu hỗn hợp, chủ yếu là doanh nghiệp cổ phần.

- Trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất hiện đại tương đương với các nước trong khu vực; đáp ứng đầy đủ chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; hình thành đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, có trình độ cao, phẩm chất đạo đức tốt.

- Củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

Tại Nghị quyết số 97/NQ-CP ngày 02/10/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 12-NQ-TW có đưa ra một số định hướng về việc thành lập các tập đoàn kinh tế để dẫn dắt nền kinh tế. Theo đó, mục tiêu của việc cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN đến năm 2030: Củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, cần thực hiện một số nhiệm vụ như sau

Một là, nghiên cứu, ban hành cơ chế để phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước trong việc hình thành và mở rộng các chuỗi sản xuất cung ứng và chuỗi giá trị trong nước, khu vực và thế giới. Hạn chế tình trạng sản xuất, kinh doanh khép kín, cục bộ, không minh bạch trong doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là trong các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Hai là, củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu để đến năm 2025 - 2030 có quy mô lớn, hoạt động có hiệu quả, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế ở một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế trên cơ sở hoàn thiện mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước theo thông lệ quốc tế.

Ba là, xác định rõ quy mô và phạm vi hoạt động phù hợp với năng lực quản trị, điều hành; cơ cấu lại bộ máy tổ chức và cán bộ của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nướv theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phân cấp, phân quyền rõ ràng.

Bốn là, đẩy mạnh công khai thông tin hoạt động của DNNN tạo điều kiện cải thiện cho việc chia sẻ, minh bạch hóa thông tin trong nội bộ doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với cơ quan chủ sở hữu, giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước, giúp các cơ quan quản lý nhà nước có công cụ hữu ích trong việc quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.

Năm là, kiên quyết giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong hoạt động của các DNNN, tiến tới hoạt động theo kinh tế thị trường, bình đẳng với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khu vực tư nhân gia nhập các thị trường DNNN đang giữ vị trí thống lĩnh hoặc chi phối.

Như vậy, xác định DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa  là đúng đắn, phù hợp với điều kiện của nước ta và là tiêu chí quan trọng bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế. Tuy nhiên, để phát huy tối đa nguồn lực đó hiệu quả, Doanh nghiệp nhà nước tiến tới phải thật sự hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu; tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định pháp luật.

 


[1] Số liệu có thay đổi so với số liệu đã báo cáo năm 2018 tại Báo cáo số 499/BC-CP ngày 16/10/2019 của Chính phủ do một số DNNN chính thức chuyển thành công ty cổ phần trong năm 2019.

[2] Báo cáo không bao gồm số liệu của TCT Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, TCT Viễn thông toàn cầu – Bộ Công an do đang thực hiện tái cơ cấu theo Nghị quyết của Bộ Chính trị, Chính phủ.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

Các tin khác