BÁO CÁO

TÌNH HÌNH TÌNH HÌNH TRỢ GIÚP PHÁT TRIỂN DNNVV

(Tài liệu phục vụ kỳ họp của Hội đồng ngày 19/10/2012)

                

Để phục vụ kỳ họp và các hoạt động của Hội đồng Khuyến khích Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2012, ngày 21/3/2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có công văn số 1745/BKHĐT-PTDN gửi một số Bộ, ngành, địa phương và tổ chức hiệp hội đề nghị báo cáo tình hình trợ giúp phát triển DNNVV. Trên cơ sở tổng hợp báo cáo của các đơn vị, Cục Phát triển doanh nghiệp xin báo cáo một số nội dung chủ yếu về tình hình trợ giúp phát triển DNNVV trong thời gian qua như sau:  

I. Tình hình trợ giúp phát triển DNNVV thời gian qua

1. Tình hình chung về doanh nghiệp

1.1. Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giải thể và dừng hoạt động

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh), tính đến 20/8/2012, cả nước đã có 46.054 doanh nghiệp (DN) thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 320.801 tỷ đồng, giảm 11,5% về số lượng DN và tăng 0,2% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2011.

Về lĩnh vực hoạt động: một số lĩnh vực có số DN thành lập mới giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là: khai khoáng (giảm 48,9%), kinh doanh bất động sản (giảm 48,1%), xây dựng (giảm 25,1%), nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (23,71%), công nghiệp chế biến, chế tạo (giảm 17,64%), sản xuất phân phối điện, nước, gas (giảm 13.76%). Trong khi đó, một số lĩnh vực có số lượng DN thành lập mới tăng đáng kể như giáo dục đào tạo (tăng 24,96%); nghệ thuật, vui chơi, giải trí (tăng 12,37%); tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 11,11%).

Về đăng ký sử dụng lao động: Số lao động đăng ký sử dụng của các DN thành lập trong 8 tháng đầu năm 2012 là 614.354 lao động, trong đó chủ yếu tập trung ở các trung tâm và đô thị lớn như Tp. Hồ Chí Minh (139.016 lao động), Hà Nội (124.419 lao động), Đà Nẵng (19.951 lao động), Bình Dương (18.511 lao động), Hải Phòng (17.692 lao động).

Số DN dừng hoạt động: Tính đến 20/8/2012, tổng số DN đã giải thể và dừng hoạt động là 35.483 DN, trong đó có 5.897 DN giải thể, 29.586 DN dừng hoạt động, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2011.

Lĩnh vực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn là tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 206 DN dừng hoạt động, tăng 53,7%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 934 DN dừng hoạt động, tăng 31,7%; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 1.804 DN dừng hoạt động, tăng 24,8%; tư vấn, thiết kế; công nghệ, quảng cáo và chuyên môn khác có 1.320 DN dừng hoạt động, tăng 24,3%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí có 144 DN dừng hoạt động, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2011.

Địa phương có nhiều DN dừng hoạt động là Tp. Hồ Chí Minh có 11.397 DN (1.681 đã giải thể, 9.716 dừng hoạt động), Hà Nội có 8.154 DN (1.155 đã giải thể, 6.999 dừng hoạt động), Hải Phòng có 964 DN (145 đã giải thể, 819 dừng hoạt động, Đà Nẵng có 833 DN (135 đã giải thể, 698 dừng hoạt động)

Về tổng số DN đang hoạt động trong nền kinh tế, tính đến 20/8/2012, trong tổng số 670.041 DN đã được thành lập, cả nước còn 470.443 DN đang hoạt động (chiếm 70%), 84.948 DN đã giải thể, 18.542 DN đăng ký dừng hoạt động và 96.108 DN dừng hoạt động nhưng không đăng ký.

1.2. Một số khó khăn chính của doanh nghiệp thời gian qua

+ Thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh: Khó khăn nhất đối với DN, đặc biệt là các DNNVV vẫn là thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Trong thời gian qua, lãi suất cho vay liên tục ở mức cao và trong thời gian dài, nên các DN khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Ngay cả khi tiếp cận được vốn vay, với lãi suất cao, thời gian vay vốn ngắn khiến các DN khó quay vòng vốn để trả lãi ngân hàng, trả lương cho người lao động. Theo báo cáo của Hiệp hội DNNVV Việt Nam, năm 2011 chỉ khoảng 30% DNNVV vay vốn được từ các ngân hàng, 70% số còn lại sử dụng vốn tự có hoặc vay từ  nguồn khác. Trong Quý I/2012, có trên 30% số DN vay vốn ngân hàng, trong đó có tới 76% phải vay ở mức lãi suất 18-19% trở lên.

+ Chí phí sản xuất tăng cao do biến động các yếu tố đầu vào: Hầu hết giá nguyên liệu đầu vào của các ngành đều tăng trong khi giá bán sản phẩm không tăng. Một số ngành có tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu, phụ kiện nhập khẩu (ví dụ, sản xuất dây và cáp điện, điện tử…) bị ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh, giá thành sản phẩm tăng do giá nhập nguyên liệu như đồng, nhôm, kẽm,… tăng mạnh. Điển hình là các DN thành viên Hiệp hội Bông sợi Việt Nam, năm 2011, giá nguyên liệu của ngành (bông) tăng cao, sau đó đột ngột giảm 30% khiến nhiều DN trong ngành thiệt hại.

+  Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, hàng tồn kho lớn: Trong năm 2011 và những tháng đầu năm 2012, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, sức tiêu thụ của thị trường giảm sút, DN nghiệp có xu hướng chủ động thu hẹp sản xuất, hoạt động cầm chừng. Hàng tồn kho ở các DN trong một số ngành  tăng cao: chế biến và bảo quản rau quả tăng 123,2%; sản xuất các sản phẩm khác từ plastic tăng 89,1%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 62,8%, sản xuất xe có động cơ tăng 56,5%, sản xuất xi măng tăng 52,3%... 

+ Kim ngạch xuất khẩu giảm, thị trường bị thu hẹp: Hầu hết các thị trường truyền thống của DN Việt Nam bị thu hẹp, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu giảm. Trong khi đó, các thị trường mới ở chủ yếu phục vụ các hợp đồng ngắn hạn, theo thời vụ, thiếu tính ổn định. Thị trường xuất khẩu các mặt hàng như điều ảm đạm từ tháng 10/2011, giá xuất khẩu toàn ngành năm 2012 có thể giảm 25% so với năm 2011, nhiều mã hàng giảm tới 40%. Sản lượng xuất khẩu điều năm 2011 giảm gần 20% so với năm 2010. Xuất khẩu các mặt hàng như chè, bông sợi, gỗ,… cũng bị giảm và khó tiêu thụ.

Ngoài ra, DN trong nước cũng gặp nhiều bất lợi do cạnh tranh với DN nước ngoài được hưởng lợi về chi phí tài chính và hỗ trợ của nước sở tại. Trong khi đó, Việt Nam chưa có hàng rào kỹ thuật hữu hiệu để bảo vệ hàng hóa trong nước.

1.3. Nhu cầu hỗ trợ đối với khu vực DNNVV

Nhu cầu hỗ trợ đối với DNNVV về cơ bản tập trung vào một số vấn đề sau:

- Tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi và cạnh tranh bình đẵng cho khu vực DNNVV, trong đó cần tạo điều kiện cho DNNVV gia nhập, rút lui khỏi thị trường đúng quy định pháp luật, dễ dàng, thuận lợi cũng được coi là một yếu tố đảm bảo tính hấp dẫn của các chính sách khuyến khích đầu tư. Cần xóa bỏ các ưu đãi mang tính phân biệt đối xử đối với DNNVV và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đảm bảo sự cạnh tranh thực sự bình đẵng, theo nguyên tác thị trường giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.

- Về định hướng chính sách, doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là DNNVV cần được coi là trụ cột của nền kinh tế nhằm xây dựng một nền kinh tế tự chủ và cần có sự cân bằng trong quan điểm khuyến khích đầu tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Việc xây dựng một nền kinh tế tự chủ, tự cường cần phải dựa vào khu vực trong nước mạnh. Chính sách phát triển công nghiệp và các chương trình nâng cao năng lực quốc gia cần được dựa trên nền tảng là phát triển doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là DNNVV.

- Nghiên cứu và áp dựng triệt để các quy luật của nền kinh tế thị trường khi xây dựng và thực hiện các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp. Các chương trình, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động thực sự hiệu quả khi nó phù hợp với quy luật thị trường.

- Sử dụng các ưu đãi về thuế một cách hợp lý và tuân thủ các thông lệ quốc tế: đảm bảo tính hiệu quả, công bằng, đơn giản, minh bạch. Đảm bảo các nguyên tắc thị trường, các cam kết WTO khi xây dựng các chương trình hỗ trợ hoặc các chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp. Đảm bảo không can thiệp quá sâu vào hoạt động nội bộ của doanh nghiệp.

- Hình thành cơ sở dữ liệu chính xác, đầy đủ về các DNNVV. Xây dựng hệ thống chỉ số thống kê về DNNVV, chú trọng tới các chỉ số thể hiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cơ sở dữ liệu thống kê chính sách và bộ chỉ số này có ý nghĩa quan trọng cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, xây dựng các chương trình hỗ trợ cho DNNVV.

2. Về hỗ trợ tài chính, tín dụng cho DNNVV

- Tín dụng ngân hàng cho DNNVV: Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các biện pháp điều chỉnh chính sách tiền tệ để kiểm soát hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng theo hướng tập trung phục vụ các nhu cầu vốn đối với các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn, DNNVV. Tính đến 31/12/2011, dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với các DNNVV đạt 881.340 tỷ đồng, trong đó dự nợ tín dụng ngắn hạn đạt 569.073 tỷ đồng, trung hạn đạt 141.527 tỷ đồng, dài hạn đạt 170.740 tỷ đồng. Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với các DNNVV chiếm khoảng 35% tổng dự nợ của toàn bộ hệ thống tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2012, nhìn chung tăng trưởng tín dụng thấp, đạt 0,76% so với cuối năm 2011. Riêng tín dụng dành cho DNNVV giảm mạnh, giảm tới 13,69% (tính đến 31/5/2012). Lãi suất huy động đã giảm 4 lần từ đầu năm 2012, hiện ở mức 9%/năm. Lãi suất cho vay giảm khoảng 3-6%/năm so với cuối năm 2011, trong đó tập trung chủ yếu đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, sản xuất-kinh doanh. Lãi suất cho vay phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, DNNVV, công nghiệp hỗ trợ ở mức 11-13%/năm, ở các lĩnh vực kinh doanh khác 14-17%/năm.

- Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV vay vốn tại NHTM[1]: Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) đã xem xét thẩm định, chấp thuận bảo lãnh và phát hành hơn 1.500 chứng thư bảo lãnh cho các doanh nghiệp (trong đó, gần 100% khách hàng là DNNVV) với giá trị bảo lãnh gần 11.000 tỷ đồng. Đến nay, các NHTM đã cấp vốn vay cho các doanh nghiệp với tổng số tiền gần 9.000 tỷ đồng. Tổng số tiền NHPT trả nợ thay cho DNNVV từ khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh theo quy định tại Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg đến ngày 29/2/2012 là 112 tỷ đồng. Đến hết ngày 29/2/2012, các DNNVV đã hoàn trả NHPT là 4,7 tỷ đồng, trong đó nợ gốc là 4,5 tỷ đồng.

- Về Quỹ bảo lãnh cho DNNVV tại các địa phương[2]: Tính đến nay, cả nước có 10 địa phương (Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Hà Giang, Yên Bái, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Ninh Thuận, Bình Thuận, Trà Vinh, Kiên Giang) thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng. Tuy nhiên, chỉ một số Quỹ hoạt động bước đầu hoạt động có hiệu quả nhất định như Tp. Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc... Tổng số vốn điều lệ của các Quỹ: 575 tỷ đồng (cao nhất là Tp. Hồ Chí Minh: 194,5 tỷ đồng; thấp nhất là Bắc Ninh: 21,9 tỷ đồng). Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, việc hỗ trợ giải quyết khó khăn về tài chính cho DNNVV thông qua mô hình này hiệu quả chưa cao, còn gặp nhiều khó khăn trong huy động các nguồn vốn cho Quỹ, vướng mắc trong thành lập, tổ chức và điều hành Quỹ…

- Về Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/5/2010 của Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng Quỹ Phát triển DNNVV và đã trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 12/2011.

- Về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu[3]: Đối tượng thụ hưởng là các doanh nghiệp nói chung, không ưu tiên cho DNNVV. Các doanh nghiệp vay vốn tại NHPT thuộc các ngành nghề, lĩnh vực: kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; nông nghiệp nông thôn; công nghiệp; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn,...; dự án cho vay theo Hiệp định Chính phủ, dự án đầu tư ra nước ngoài,... với quy mô chủ yếu là dự án nhóm A, B. Giai đoạn 2006-2011: chỉ có 437 dự án của hơn 300 DNNVV làm chủ đầu tư vay vốn tín dụng đầu tư tại NHPT, trong đó chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực: hạ tầng giao thông, cung cấp điện nước, công nghiệp điện tử, cơ khí, khai thác,…  Tổng số vốn đã ký theo hợp đồng tín dụng cho 437 dự án nói trên gần 19.000 tỷ đồng. Như vậy, giai đoạn 2006-2012, chỉ có khoảng 72 dự án/năm được tiếp cận vốn vay tín dụng đầu tư với số vốn vay khoảng 43 tỷ đồng/dự án. Về tín dụng xuất khẩu: NHPT mới hỗ trợ được 162 DNNVV với tổng doanh số cho vay gần 17.000 tỷ đồng để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu sang hơn 120 nước.

- Các chính sách khác: Chính sách tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại tại các vùng khó khăn (Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg); các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và các doanh nghiệp hoạt động tại khu vực nông thôn (Nghị định số 41/2010/NĐ-CP và 61/2010/NĐ-CP); tiếp cận vốn từ các quỹ chuyên ngành (Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ khuyến công, Quỹ khuyến nông, Quỹ Bảo vệ môi trường, Quỹ Phát triển khoa học công nghệ quốc gia,...).

- Ngoài ra, để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn do suy thoái kinh tế trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã có nhiều biện pháp hỗ trợ về lãi suất, miễn, giảm, giãn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể là: gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho DNNVV nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế năm 2011 (Quyết định số 21/2011/QĐ-TTg); gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 của doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong một số ngành nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh (Quyết định số 54/2011/QĐ-TTg); gia hạn nộp thuế thêm 03 tháng đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Quý I, II/ năm 2011 của DNNVV, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động (Quyết định số 04/2012/QĐ-TTg)…

3. Về hỗ trợ tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sản xuất kinh doanh

Trong thời gian qua, các chính sách liên quan đến đất đai từng bước được sửa đổi, bổ sung theo hướng ngày càng thuận lợi hơn cho các DNNVV tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh. Để tạo quỹ đất cho các doanh nghiệp thuê, Bộ Tài Nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành thống kê và thu hồi đất hoang hóa, sử dụng không đúng mục theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê quỹ đất đang sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trong đó có kiểm kê các doanh nghiệp thuộc đối tượng tổ chức kinh tế đang quản lý, sử dụng mà được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất.

Các địa phương (Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang, Đăk Lăk,…) cũng đã tiến hành rà soát, thu hồi diện tích đất thuộc các dự án sử dụng không hiệu quả, không triển khai thực hiện để tạo quỹ đất cho doanh nghiệp có năng lực thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất thông qua việc thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển các khu, cụm công nghiệp, các làng nghề.

4. Về hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNNVV

- Hỗ trợ DNNVV đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật:

Trong thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, sửa đổi, bổ sung và từng bước hoàn thiện khung pháp luật liên quan đến các lĩnh vực sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, ứng dụng và phát triển công nghệ và thực hiện một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ… nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong đó có DNNVV, cụ thể đang tổ chức triển khai thực hiện các chương trình:

Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (Chương trình 68)[4]: Tính đến hết năm 2011, đã có 6 danh mục dự án được phê duyệt với tổng số 144 dự án; đã tổ chức 6 đợt tiếp nhận với tổng số 177 hồ sơ đăng ký chủ trì thực hiện dự án, 112 dự án được tuyển chọn thực hiện, trong đó 54 dự án đã kết thúc. Tổng kinh phí hỗ trợ từ Chương trình tính đến hết tháng 12/2011 là 74,705 tỷ đồng. Với sự hỗ trợ của Chương trình, đã có 53 đặc sản nổi tiếng của 42 địa phương trong cả nước đã và đang được hỗ trợ thiết lập, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ.

Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020 (Chương trình 712)[5]: Hiện Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai 02 dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt gồm Dự án “xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật” và Dự án “thúc đẩy hoạt động năng suất và chất lượng”.

Một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ[6]: Giai đoạn 2002-2007, đã nhận được 500 đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các doanh nghiệp và thực hiện triển khai được 111 đề tài với tổng kinh phí hỗ trợ là 105,8 tỷ đồng. Từ 2008 đến nay, đã và đang triển khai hỗ trợ cho 30 đề tài nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp (chủ yếu là DNNVV) thực hiện với tổng kinh phí khoảng 38 tỷ đồng và hiện đã giải ngân trên 15 tỷ đồng.

Bộ Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ bảo lãnh vay vốn cho 54 dự án sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng do 53 đơn vị thực hiện từ năm 2007 đến nay với tổng kinh phí bảo lãnh nguồn vốn vay khoảng 35 tỷ đồng. Hiện nay, thông qua Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia, các doanh nghiệp, tổ chức khoa học công nghệ được vay vốn với lãi suất ưu đãi để thực hiện các dự án ứng dụng kết quả nghiên cứu, đổi mới và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

Các chương trình khác: Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020,  Chương trình hỗ trợ thí điểm các DNNVV áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và các tiêu chuẩn quốc tế khác, Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020, Hỗ trợ kinh phí cho DN thực hiện đề tài nghiên cứu KH&CN,…

-  Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV:

Trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho DNNVV[7]: Năm 2011, ngân sách nhà nước hỗ trợ 20 tỷ đồng cho hoạt động trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các DNNVV. Các Bộ, ngành và tổ chức hiệp hội đã triển khai tổ chức được gần 200 khóa đào tạo về khởi sự doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp cho hơn 7.600 học viên với tổng kinh phí khoảng 13,5 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 8,3 tỷ đồng. Kinh phí ngân sách Trung ương hỗ trợ cho hoạt động này năm 2012 là 65 tỷ đồng.

Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực theo Chương trình khuyến công quốc gia: Hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề, nâng cao năng lực quản lý kinh doanh cho các cơ sở công nghiệp nông thôn cũng được chú trọng. Tổng kinh phí khuyến công quốc gia năm 2012 là 80 tỷ đồng và kinh phí khuyến công địa phương năm 2012 là 135 tỷ đồng.

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức pháp luật cho DNNV[8]: Chương trình 585 triển khai trên phạm vi toàn quốc, tập trung triển khai thí điểm tại 07 địa phương (Cần Thơ, Đắk Lắk, Đồng Nai, Quảng Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Hà Nội) và một số địa phương được lựa chọn. Năm 2011, Chương trình đã tổ chức được 32 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho gần 5.000 đại biểu gồm quản lý doanh nghiệp, cán bộ pháp chế doanh nghiệp và cán bộ thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên cả nước.

5. Xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường  

- Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia[9]: Giai đoạn 2006-2010, Bộ Công thương đã phê duyệt 669 đề án với kinh phí hỗ trợ của Nhà nước là 620,2 tỷ đồng. Năm 2011, 50 đề án được phê duyệt với tổng kinh phí gần 55 tỷ đồng. Năm 2012, Bộ Công Thương đã phê duyệt đợt 1 Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia năm 2012 với 46 đề án của 38 đơn vị chủ trì với tổng kinh phí là 43, 93 tỷ đồng. Dự kiến các chương trình năm 2012 sẽ tiếp tục hỗ trợ hàng nghìn lượt doanh nghiệp, trong việc duy trì quan hệ bạn hàng cũ và mở rộng quan hệ với nhiều đối tác mới, phát triển thị trường, quảng bá hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nội địa cũng như trên thị trường thế giới. Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia đã đạt được những kết quả thiết thực trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc khai thác, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; củng cố và phát triển thị trường trong nước; góp phần nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp.

- Hỗ trợ thông tin xúc tiến xuất khẩu: Bộ Công thương đang triển khai 2 hoạt động chính nhằm hỗ trợ DNNVV trong lĩnh vực thương mại điện tử gồm hoạt động hỗ trợ thông tin trong hoạt động xuất khẩu và đào tạo thương mại điện tử. Hoạt động hỗ trợ thông tin thị trường trong xuất khẩu được thực hiện thông qua 3 cổng thông tin gồm: Cổng thông tin Xuất khẩu Việt Nam (www.ttnn.com.vn), Cổng Thông tin xuất khẩu Việt Nam (www.vietnamexport.com) và Cổng thông tin Thương mại điện tử quốc gia (www.ecvn.com). Ba cổng thông tin này cung cấp cho doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV kênh thông tin thị trường chính thống và chuẩn xác.

- Hỗ trợ tiếp cận thông tin qua các trang web của hiệp hội ngành hàng và hỗ trợ thông tin thị trường cho hoạt động xuất khẩu thông qua 3 Cổng Thông tin: Cổng Thông tin Thị trường nước ngoài, Cổng Thông tin xuất khẩu Việt Nam, Cổng Thông tin Thương mại điện tử quốc gia. Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp thông qua: Cổng Thông tin Doanh nghiệp của Cục Phát triển doanh nghiệp (www.business.gov.vn), trang web của các Trung tâm Hỗ trợ DNNVV phía Bắc (www.hotrodoanhnghiep.gov.vn), miền Trung (www.tacdn.gov.vn) và phía Nam (www.unionb2b.com)...

Đánh giá chung: Trong quá trình triển khai thực hiện trợ giúp phát triển DNNVV, nổi lên một số vấn đề sau:

- Các chính sách, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đã được ban hành tương đối đầy đủ, nhưng ít DNNVV tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước. Nguyên nhân là phần lớn các chính sách, chương trình hỗ trợ chỉ hướng vào đối tượng doanh nghiệp nói chung, không ưu tiên hoặc dành riêng hỗ trợ DNNVV (trừ chính sách bảo lãnh tín dụng cho DNNVV và bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại NHTM thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam xác định rõ đối tượng hưởng thụ trực tiếp là các DNNVV). Vì vậy, trên thực tế, chủ yếu là các doanh nghiệp lớn tiếp cận được các chính sách, chương trình hỗ trợ của Nhà nước (ví dụ, chính sách tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP). Bên cạnh đo, nhiều cơ chế, chính sách đã ban hành, nhưng chậm trễ hoặc gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức triển khai thực hiện (điển hình là giảm 50% tiền thuê đất cho năm 2011 và 2012 cho các tổ chức kinh tế đang hoạt động trong các ngành sản xuất, nhưng thực hiện thủ tục tại các địa phương nhiều phức tạp, chưa được quyết định giảm tiền thuê đất cho doanh nghiệp, đặc biệt tại các thành phố lớn; chưa cụ thể hóa chính sách ưu đãi đầu tư tại các địa bàn nông thôn theo quy định tại Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 của Chính phủ nên chưa có cơ sở triển khai thực hiện…), nên chưa hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế suy thoái vừa qua.

- Nguồn lực dành cho hỗ trợ DNNVV hạn chế, nhưng còn dàn trải, phân tán, thậm chí chồng chéo… Hầu hết các địa phương chưa chủ động bố trí ngân sách để hỗ trợ cho DNNVV, nếu có thì cũng rất hạn chế so với nhu cầu hỗ trợ cao từ phía cộng đồng DNNVV (chỉ mới 19% được bố trí ngân sách riêng thực hiện công tác hỗ trợ cho doanh nghiệp). Nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được ban hành nhưng kinh phí chưa bố trí kịp thời để triển khai thực hiện. Một số chính sách, chương trình hỗ trợ có nội dung chồng chéo, trùng lắp do nhiều Bộ cùng thực hiện hoặc nhiều chính sách, chương trình do cùng một Bộ thực hiện (ví dụ, chương trình hỗ trợ khoa học công nghệ, các chương trình đào tạo nguồn nhân lực...).

- Một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 22/NQ-CP, dẫn đến nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ chưa được triển  khai thực hiện. Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương còn chưa chặt chẽ và một số Bộ, ngành, địa phương chưa dành sự quan tâm đúng mức cho việc tổ chức thực hiện Kế hoạch Phát triển DNNVV 5 năm cũng như báo cáo tình hình thực hiện, các giải pháp đã được giao trong Chương trình hành động phát triển DNNVV.

- Hệ thống cơ quan trợ giúp phát triển DNNVV chưa được hình thành đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Ở cấp Trung ương, cơ quan đầu mối trợ giúp phát triển DNNVV chỉ mới tập trung vào công tác xây dựng các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển DNNVV, chưa có đủ điều kiện để đẩy mạnh việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách, các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV do nguồn nhân lực hạn chế, cơ sở vật chất yếu kém và nguồn kinh phí thực hiện các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV hạn hẹp, kể cả một số hoạt động chính như đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp phát triển DNNVV... Ở cấp địa phương, hệ thống các cơ quan đầu mối về trợ giúp phát triển DNNVV chưa hoàn thiện và còn yếu. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước của tỉnh, thành phố trong lĩnh vực phát triển DNNVV còn thiếu, năng lực hạn chế và phần lớn chưa được qua đào tạo, bồi dưỡng về công tác trợ giúp phát triển DNNVV. Hiện cả nước mới chỉ có 20 tỉnh, thành phố thành lập đơn vị đầu mối có chức năng, nhiệm vụ về trợ giúp phát triển DNNVV ở địa phương. Phần lớn các đơn vị này được thành lập với mục đích triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp phát triển DNNVV nhưng hiện đang thực hiện nhiều chức năng, nhiệm vụ khác nhau như hỗ trợ đăng ký thành lập doanh nghiệp; xúc tiến, tư vấn đầu tư; hỗ trợ, tư vấn đấu thầu…  và được thành lập dưới mô hình tổ chức khác nhau như đơn vị cấp phòng (trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư) hoặc trung tâm (là đơn vị sự nghiệp công lập, trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc UBND cấp tỉnh). Vì vậy, kết quả việc triển khai các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV tại những địa phương này còn nhiều hạn chế.

III. Nội dung, định hướng, giải pháp trợ giúp phát triển DNNVV thời gian tới

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/5/2010 của Chính phủ và trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch Phát triển DNNVV 5 năm (giai đoạn 2006-2010), Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1231/QĐ-TTg ngày 07/9/2012 phê duyệt Kế hoạch Phát triển DNNVV giai đoạn 2011-2015. Theo đó, công tác trợ giúp phát triển DNNVV trong 5 năm tới (giai đoạn 2011-2015) cần tập trung vào một số định hướng chủ yếu sau:

(1) Tiếp tục hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định khung pháp lý, cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng cho DNNVV phát triển;

(2) Tạo bước đột phá để DNNVV tiếp cận vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay cho DNNVV;

(3) Hỗ trợ tăng cường năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ; đẩy mạnh chuyển giao, đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, năng lực cạnh tranh của DNNVV. Đẩy nhanh việc triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ, phổ biến, ứng dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến tới các DNNVV, khuyến khích hợp tác và chia sẻ công nghệ giữa DNNVV với DN lớn, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Khuyến khích DNNVV tham gia các chương trình liên kết ngành, liên kết vùng và phát triển công nghiệp hỗ trợ;

(4) Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực có kỹ năng cho DNNVV. Chú trọng đào tạo nghề các ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ cao để chuyển dịch cơ cấu lao động từ thô sơ sang lao động có tay nghề trình độ, đáp ứng yêu cầu phát triển của DNNVV trong giai đoạn mới. Lồng nghép các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV trong đề án phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Khuyến khích doanh nghiệp thành lập hoặc liên kết với cơ sở dạy nghề trong đào tạo và giải quyết việc làm. Phát triển đồng bộ thị trường lao động; phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu về thị trường lao động, các hình thức thông tin thị trường lao động nhằm kết nối cung cầu lao động;

(5) Cải thiện tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất, tăng cường bảo vệ môi trường thông qua việc lập và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tạo điều kiện phát triển các khu cụm công nghiệp có quy mô hợp lý, có giá thuê phù hợp với khả năng của DNNVV; hỗ trợ di dời các DNNVV gây ô nhiễm, tác hại đến môi trường tại các khu dân cư và đô thị đến các khu cụm công nghiệp;

(6) Hình thành mạng lưới hệ thống thông tin hỗ trợ DNNVV để cung cấp thông tin về các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp, các chính sách, chương trình trợ giúp phát triển DNNVV và các thông tin khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

(7) Nâng cao hiệu quả điều phối thực hiện các hoạt động trợ giúp phát triển DNNVV, tăng cường vai trò của Hội đồng Khuyến khích Phát triển DNNVV; tăng cường năng lực cho các địa phương về quản lý, xúc tiến, phát triển DNNVV.

Để thực hiện trợ giúp phát triển DNNVV theo các định hướng nêu trên, Kế hoạch Phát triển DNNVV 5 năm (2011-2015) đã đề xuất 8 nhóm giải pháp gồm:

(1) Hoàn thiện khung pháp lý về gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp;

(2) Hỗ trợ tiếp cận tài chính, tín dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DNNVV;

(3) Hỗ trợ đổi mới công nghệ và áp dụng công nghệ mới trong các DNNVV;

(4) Phát triển nguồn nhân lực cho các DNNVV, tập trung vào nâng cao năng lực quản trị cho các DNNVV;

(5) Đẩy mạnh hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai cho các DNNVV;

(6) Cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV và xúc tiến mở rộng thị trường cho DNNVV;

(7) Xây dựng hệ thống tổ chức trợ giúp phát triển DNNVV;

(8) Quản lý thực hiện Kế hoạch phát triển DNNVV.

Trong mỗi nhóm giải pháp nêu trên gồm có một số giải pháp cụ thể, có phân công cơ quan chủ trì, thời gian dự kiến thực hiện.

Nhằm đẩy mạnh hoạt động trợ giúp phát triển DNNVV trong thời gian tới (giai đoạn 2012-2013), đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng gặp nhiều khó khăn trong năm 2012 và dự kiến sẽ còn gặp nhiều khó khăn những năm tiếp theo, cần tập trung nghiên cứu và triển khai thực hiện một số nhóm giải pháp và phương thức hỗ trợ mang tính đột phá, mạnh mẽ hơn, cụ thể là:

- Thành lập Quỹ Phát triển DNNVV: Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và Nghị quyết số 22/NQ-CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 12/2011. Mục đích của Quỹ là hỗ trợ tài chính cho các DNNVV có các dự án, phương án sản xuất-kinh doanh khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích của Nhà nước nhằm tăng thu nhập, tạo việc làm cho người lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần thực hiện một số mục tiêu chung của Nhà nước về phát triển DNNVV. Quỹ sẽ ủy thác cho các tổ chức tín dụng cho vay ưu đãi đối với các DNNVV có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích phát triển của Nhà nước.

- Đẩy mạnh triển khai thực hiện các chương trình đổi mới, ứng dụng công nghệ, chú trọng phát triển công nghệ cao nhằm tạo ra các sản phẩm mới, trang thiết bị, máy móc hiện đại, cụ thể: Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020...;

- Thí điểm xây dựng vườn ươm doanh nghiệp trong một số lĩnh vực ưu tiên, tập trung vào đổi mới sáng tạo, phát triển các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao, có tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường;

- Thí điểm xây dựng mô hình hỗ trợ toàn diện cho DNNVV trong một số lĩnh vực lựa chọn, bước đầu triển khai thí điểm tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh và nhân rộng mô hình thành công sang các địa phương khác; trong đó ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển, đầu tư đổi mới phát triển sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến;

- Thúc đẩy các liên kết kinh tế, cụm liên kết ngành: Hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai cho DNNVV thông qua đẩy nhanh việc hoàn thiện và phê duyệt Đề án phát triển cụm công nghiệp, khu công nghiệp gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ, tạo mạng lưới liên kết sản xuất và hình thành chuỗi giá trị.

IV. Đề xuất các nội dung thảo luận tại kỳ họp

Nhằm đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển DNNVV trong giai đoạn 2012-2013, Cục Phát triển doanh nghiệp xin đề xuất một số nội dung thảo luận tại kỳ họp lần này, cụ thể gồm:

1. Đẩy mạnh triển khai thực hiện Kế hoạch Phát triển DNNVV 5 năm 2011-2015

Ngày 7/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1231/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch Phát triển DNNVV giai đoạn 2011-2015. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để các Bộ, ngành, địa phương triển khai chương trình hành động của Bộ ngành, địa phương mình nhằm trợ giúp cho DNNVV.

Để tổ chức triển khai hiệu quả Kế hoạch, các Bộ, ngành, địa phương cần lồng ghép các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV với các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án, các chương trình mục tiêu của các Bộ, ngành, địa phương liên quan nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

Hội đồng Khuyến khích phát triển DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi, đôn đốc, giám sát tình hình thực hiện các giải pháp của các Bộ, ngành nhằm đảm bảo điều phối liên Bộ hiệu quả. Các thành viên của Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV là đại diện của các Bộ, ngành liên quan giữ vai trò quan trọng, làm đấu mối theo dõi, chỉ đạo, đôn đốc nhóm giải pháp liên quan của Bộ, ngành mình theo nhiệm vụ được giao tại Chương trình hành động phê duyệt kèm theo Quyết định 1231/QĐ-TTg để kịp thời báo cáo Chủ tịch Hội đồng.

Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với vai trò đầu mối tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch, đồng thời là thư ký thường trực Hội đồng sẽ xây dựng Khung theo dõi, đánh giá thực hiện Kế hoạch phát triển DNNVV 2011-2015. Khung theo dõi đánh giá thực hiện Kế hoạch là công cụ hiệu quả để đo lường, đánh giá tác động và kết quả của các giải pháp so với mục tiêu đề ra.

Cục Phát triển doanh nghiệp sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng Báo cáo giữa kỳ và cuối kỳ trên cơ sở Khung theo dõi đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch để tổng hợp, báo cáo Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV và Thủ tướng Chính phủ  nhằm kịp thời đưa ra các điều chỉnh cần thiết đối với các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai Kế hoạch. Cục Phát triển doanh nghiệp sẽ tổ chức làm việc thường xuyên với các Bộ ngành liên quan và các địa phương để đảm bảo kế hoạch được triển khai đúng chất lượng và tiến độ.

Tại cấp địa phương, Cục Phát triển doanh nghiệp sẽ phối hợp với các địa phương để tổ chức phổ biến, hướng dẫn các địa phương thực hiện Kế hoạch trên địa bàn. Cục Phát triển doanh nghiệp dự kiến lựa chọn một số địa phương tiêu biểu và phối hợp với một số nhà tài trợ (ILO, JICA v.v...) để tổ chức triển khai thí điểm một số chương trình trợ giúp DNNVV, trên cơ sở đó sẽ nhân rộng ra các địa phương khác.

Ngoài việc điều phối tổ chức triển khai Kế hoạch, Cục Phát triển doanh nghiệp sẽ chủ động phối hợp với các đơn vị trong Bộ (Tổng Cục thống kê, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Cục Quản lý Đấu thầu, Vụ Pháp chế v.v... và các đơn vị liên quan) để thực hiện các chương trình hành động thuộc chức năng nhiệm vụ của Bộ theo chương trình hành động đề ra trong Kế hoạch.

2. Định hướng công cụ và mô hình trợ giúp phát triển DNNVV

2.1. Tăng cường hỗ trợ tiếp cận tài chính cho DNNVV thông qua thành lập Quỹ Phát triển DNNVV

Trong bối cảnh doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn hiện nay thì khó khăn lớn nhất vẫn là tiếp cận tài chính, đặc biệt là các DNNVV; trong đó lãi suất vay vốn cao và khó đáp ứng các điều kiện vay là hai nguyên nhân chính khiến các DNNVV khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Đặc biệt, trong 2 năm gần đây, lãi suất vay liên tục ở mức cao và trong thời gian dài cùng với các điều kiện cho vay của ngân hàng bị thắt chặt, dẫn đến tình trạng thiếu vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ của DNNVV, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, kiến nghị các thành viên Hội đồng xem xét, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ sớm phê duyệt quyết định thành lập Quỹ Phát triển DNNVV là giải pháp hết sức cấp bách và cần thiết nhằm hình thành một định chế tài chính Nhà nước với nguồn kinh phí tập trung dành riêng để hỗ trợ tài chính cho các DNNVV có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi nhằm tăng thu nhập, tạo việc làm cho người lao động; nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp tạo ra sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

2.2. Định hướng mô hình và hoạt động của cơ quan đầu mối triển khai thực hiện chính sách trợ giúp phát triển DNNVV ở Trung ương và địa phương

Như đề cập ở trên, hệ thống cơ quan trợ giúp phát triển DNNVV chưa được hình thành đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan đầu mối triển khai thực hiện chính sách trợ giúp phát triển DNNVV chưa hoàn thiện và còn yếu. Trong thời gian tới, nhằm từng bước xây dựng, củng cố hệ thống trợ giúp phát triển DNNVV, xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ Đề án tăng cường năng lực cho cơ quan đầu mối triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp phát triển DNNVV, kiến nghị các thành viên Hội đồng có ý kiến chỉ đạo đối với xây dựng định hướng mô hình và hoạt động của cơ quan đầu mối triển khai thực hiện chính sách trợ giúp phát triển DNNVV ở Trung ương và địa phương.

 

 

 

 

 



[1] Theo quy định tại Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại NHTM

[2] Thành lập theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV

[3] Theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước (thay thế Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ)

[4] Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg ngày 04/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp và Quyết định số 2204/QĐ-TTg ngày 06/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2011-2015.

[5] Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020.

[6] Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành. Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 119/1999/NĐ-CP trình Thủ tướng Chính phủ.

[7] Thông tư liên tịch số 05/2011/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 31/3/2011 hướng dẫn trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho DNNVV.

[8] Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và Quyết định số 585/2010/Đ-TTg ngày 05/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp (Chương trình 585).

[9] Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article

BÁO CÁO

TÌNH HÌNH TÌNH HÌNH TRỢ GIÚP PHÁT TRIỂN DNNVV

(Tài liệu phục vụ kỳ họp của Hội đồng ngày 19/10/2012)

                

Để phục vụ kỳ họp và các hoạt động của Hội đồng Khuyến khích Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2012, ngày 21/3/2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có công văn số 1745/BKHĐT-PTDN gửi một số Bộ, ngành, địa phương và tổ chức hiệp hội đề nghị báo cáo tình hình trợ giúp phát triển DNNVV. Trên cơ sở tổng hợp báo cáo của các đơn vị, Cục Phát triển doanh nghiệp xin báo cáo một số nội dung chủ yếu về tình hình trợ giúp phát triển DNNVV trong thời gian qua như sau:  

I. Tình hình trợ giúp phát triển DNNVV thời gian qua

1. Tình hình chung về doanh nghiệp

1.1. Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giải thể và dừng hoạt động

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh), tính đến 20/8/2012, cả nước đã có 46.054 doanh nghiệp (DN) thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 320.801 tỷ đồng, giảm 11,5% về số lượng DN và tăng 0,2% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2011.

Về lĩnh vực hoạt động: một số lĩnh vực có số DN thành lập mới giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là: khai khoáng (giảm 48,9%), kinh doanh bất động sản (giảm 48,1%), xây dựng (giảm 25,1%), nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (23,71%), công nghiệp chế biến, chế tạo (giảm 17,64%), sản xuất phân phối điện, nước, gas (giảm 13.76%). Trong khi đó, một số lĩnh vực có số lượng DN thành lập mới tăng đáng kể như giáo dục đào tạo (tăng 24,96%); nghệ thuật, vui chơi, giải trí (tăng 12,37%); tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 11,11%).

Về đăng ký sử dụng lao động: Số lao động đăng ký sử dụng của các DN thành lập trong 8 tháng đầu năm 2012 là 614.354 lao động, trong đó chủ yếu tập trung ở các trung tâm và đô thị lớn như Tp. Hồ Chí Minh (139.016 lao động), Hà Nội (124.419 lao động), Đà Nẵng (19.951 lao động), Bình Dương (18.511 lao động), Hải Phòng (17.692 lao động).

Số DN dừng hoạt động: Tính đến 20/8/2012, tổng số DN đã giải thể và dừng hoạt động là 35.483 DN, trong đó có 5.897 DN giải thể, 29.586 DN dừng hoạt động, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2011.

Lĩnh vực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn là tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 206 DN dừng hoạt động, tăng 53,7%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 934 DN dừng hoạt động, tăng 31,7%; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 1.804 DN dừng hoạt động, tăng 24,8%; tư vấn, thiết kế; công nghệ, quảng cáo và chuyên môn khác có 1.320 DN dừng hoạt động, tăng 24,3%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí có 144 DN dừng hoạt động, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2011.

Địa phương có nhiều DN dừng hoạt động là Tp. Hồ Chí Minh có 11.397 DN (1.681 đã giải thể, 9.716 dừng hoạt động), Hà Nội có 8.154 DN (1.155 đã giải thể, 6.999 dừng hoạt động), Hải Phòng có 964 DN (145 đã giải thể, 819 dừng hoạt động, Đà Nẵng có 833 DN (135 đã giải thể, 698 dừng hoạt động)

Về tổng số DN đang hoạt động trong nền kinh tế, tính đến 20/8/2012, trong tổng số 670.041 DN đã được thành lập, cả nước còn 470.443 DN đang hoạt động (chiếm 70%), 84.948 DN đã giải thể, 18.542 DN đăng ký dừng hoạt động và 96.108 DN dừng hoạt động nhưng không đăng ký.

1.2. Một số khó khăn chính của doanh nghiệp thời gian qua

+ Thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh: Khó khăn nhất đối với DN, đặc biệt là các DNNVV vẫn là thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Trong thời gian qua, lãi suất cho vay liên tục ở mức cao và trong thời gian dài, nên các DN khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Ngay cả khi tiếp cận được vốn vay, với lãi suất cao, thời gian vay vốn ngắn khiến các DN khó quay vòng vốn để trả lãi ngân hàng, trả lương cho người lao động. Theo báo cáo của Hiệp hội DNNVV Việt Nam, năm 2011 chỉ khoảng 30% DNNVV vay vốn được từ các ngân hàng, 70% số còn lại sử dụng vốn tự có hoặc vay từ  nguồn khác. Trong Quý I/2012, có trên 30% số DN vay vốn ngân hàng, trong đó có tới 76% phải vay ở mức lãi suất 18-19% trở lên.

+ Chí phí sản xuất tăng cao do biến động các yếu tố đầu vào: Hầu hết giá nguyên liệu đầu vào của các ngành đều tăng trong khi giá bán sản phẩm không tăng. Một số ngành có tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu, phụ kiện nhập khẩu (ví dụ, sản xuất dây và cáp điện, điện tử…) bị ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh, giá thành sản phẩm tăng do giá nhập nguyên liệu như đồng, nhôm, kẽm,… tăng mạnh. Điển hình là các DN thành viên Hiệp hội Bông sợi Việt Nam, năm 2011, giá nguyên liệu của ngành (bông) tăng cao, sau đó đột ngột giảm 30% khiến nhiều DN trong ngành thiệt hại.

+  Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, hàng tồn kho lớn: Trong năm 2011 và những tháng đầu năm 2012, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, sức tiêu thụ của thị trường giảm sút, DN nghiệp có xu hướng chủ động thu hẹp sản xuất, hoạt động cầm chừng. Hàng tồn kho ở các DN trong một số ngành  tăng cao: chế biến và bảo quản rau quả tăng 123,2%; sản xuất các sản phẩm khác từ plastic tăng 89,1%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 62,8%, sản xuất xe có động cơ tăng 56,5%, sản xuất xi măng tăng 52,3%... 

+ Kim ngạch xuất khẩu giảm, thị trường bị thu hẹp: Hầu hết các thị trường truyền thống của DN Việt Nam bị thu hẹp, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu giảm. Trong khi đó, các thị trường mới ở chủ yếu phục vụ các hợp đồng ngắn hạn, theo thời vụ, thiếu tính ổn định. Thị trường xuất khẩu các mặt hàng như điều ảm đạm từ tháng 10/2011, giá xuất khẩu toàn ngành năm 2012 có thể giảm 25% so với năm 2011, nhiều mã hàng giảm tới 40%. Sản lượng xuất khẩu điều năm 2011 giảm gần 20% so với năm 2010. Xuất khẩu các mặt hàng như chè, bông sợi, gỗ,… cũng bị giảm và khó tiêu thụ.

Ngoài ra, DN trong nước cũng gặp nhiều bất lợi do cạnh tranh với DN nước ngoài được hưởng lợi về chi phí tài chính và hỗ trợ của nước sở tại. Trong khi đó, Việt Nam chưa có hàng rào kỹ thuật hữu hiệu để bảo vệ hàng hóa trong nước.

1.3. Nhu cầu hỗ trợ đối với khu vực DNNVV

Nhu cầu hỗ trợ đối với DNNVV về cơ bản tập trung vào một số vấn đề sau:

- Tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi và cạnh tranh bình đẵng cho khu vực DNNVV, trong đó cần tạo điều kiện cho DNNVV gia nhập, rút lui khỏi thị trường đúng quy định pháp luật, dễ dàng, thuận lợi cũng được coi là một yếu tố đảm bảo tính hấp dẫn của các chính sách khuyến khích đầu tư. Cần xóa bỏ các ưu đãi mang tính phân biệt đối xử đối với DNNVV và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đảm bảo sự cạnh tranh thực sự bình đẵng, theo nguyên tác thị trường giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.

- Về định hướng chính sách, doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là DNNVV cần được coi là trụ cột của nền kinh tế nhằm xây dựng một nền kinh tế tự chủ và cần có sự cân bằng trong quan điểm khuyến khích đầu tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Việc xây dựng một nền kinh tế tự chủ, tự cường cần phải dựa vào khu vực trong nước mạnh. Chính sách phát triển công nghiệp và các chương trình nâng cao năng lực quốc gia cần được dựa trên nền tảng là phát triển doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là DNNVV.

- Nghiên cứu và áp dựng triệt để các quy luật của nền kinh tế thị trường khi xây dựng và thực hiện các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp. Các chương trình, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động thực sự hiệu quả khi nó phù hợp với quy luật thị trường.

- Sử dụng các ưu đãi về thuế một cách hợp lý và tuân thủ các thông lệ quốc tế: đảm bảo tính hiệu quả, công bằng, đơn giản, minh bạch. Đảm bảo các nguyên tắc thị trường, các cam kết WTO khi xây dựng các chương trình hỗ trợ hoặc các chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp. Đảm bảo không can thiệp quá sâu vào hoạt động nội bộ của doanh nghiệp.

- Hình thành cơ sở dữ liệu chính xác, đầy đủ về các DNNVV. Xây dựng hệ thống chỉ số thống kê về DNNVV, chú trọng tới các chỉ số thể hiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cơ sở dữ liệu thống kê chính sách và bộ chỉ số này có ý nghĩa quan trọng cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, xây dựng các chương trình hỗ trợ cho DNNVV.

2. Về hỗ trợ tài chính, tín dụng cho DNNVV

- Tín dụng ngân hàng cho DNNVV: Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các biện pháp điều chỉnh chính sách tiền tệ để kiểm soát hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng theo hướng tập trung phục vụ các nhu cầu vốn đối với các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn, DNNVV. Tính đến 31/12/2011, dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với các DNNVV đạt 881.340 tỷ đồng, trong đó dự nợ tín dụng ngắn hạn đạt 569.073 tỷ đồng, trung hạn đạt 141.527 tỷ đồng, dài hạn đạt 170.740 tỷ đồng. Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với các DNNVV chiếm khoảng 35% tổng dự nợ của toàn bộ hệ thống tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2012, nhìn chung tăng trưởng tín dụng thấp, đạt 0,76% so với cuối năm 2011. Riêng tín dụng dành cho DNNVV giảm mạnh, giảm tới 13,69% (tính đến 31/5/2012). Lãi suất huy động đã giảm 4 lần từ đầu năm 2012, hiện ở mức 9%/năm. Lãi suất cho vay giảm khoảng 3-6%/năm so với cuối năm 2011, trong đó tập trung chủ yếu đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, sản xuất-kinh doanh. Lãi suất cho vay phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, DNNVV, công nghiệp hỗ trợ ở mức 11-13%/năm, ở các lĩnh vực kinh doanh khác 14-17%/năm.

- Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV vay vốn tại NHTM[1]: Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) đã xem xét thẩm định, chấp thuận bảo lãnh và phát hành hơn 1.500 chứng thư bảo lãnh cho các doanh nghiệp (trong đó, gần 100% khách hàng là DNNVV) với giá trị bảo lãnh gần 11.000 tỷ đồng. Đến nay, các NHTM đã cấp vốn vay cho các doanh nghiệp với tổng số tiền gần 9.000 tỷ đồng. Tổng số tiền NHPT trả nợ thay cho DNNVV từ khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh theo quy định tại Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg đến ngày 29/2/2012 là 112 tỷ đồng. Đến hết ngày 29/2/2012, các DNNVV đã hoàn trả NHPT là 4,7 tỷ đồng, trong đó nợ gốc là 4,5 tỷ đồng.

- Về Quỹ bảo lãnh cho DNNVV tại các địa phương[2]: Tính đến nay, cả nước có 10 địa phương (Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Hà Giang, Yên Bái, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Ninh Thuận, Bình Thuận, Trà Vinh, Kiên Giang) thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng. Tuy nhiên, chỉ một số Quỹ hoạt động bước đầu hoạt động có hiệu quả nhất định như Tp. Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc... Tổng số vốn điều lệ của các Quỹ: 575 tỷ đồng (cao nhất là Tp. Hồ Chí Minh: 194,5 tỷ đồng; thấp nhất là Bắc Ninh: 21,9 tỷ đồng). Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, việc hỗ trợ giải quyết khó khăn về tài chính cho DNNVV thông qua mô hình này hiệu quả chưa cao, còn gặp nhiều khó khăn trong huy động các nguồn vốn cho Quỹ, vướng mắc trong thành lập, tổ chức và điều hành Quỹ…

- Về Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/5/2010 của Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng Quỹ Phát triển DNNVV và đã trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 12/2011.

- Về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu[3]: Đối tượng thụ hưởng là các doanh nghiệp nói chung, không ưu tiên cho DNNVV. Các doanh nghiệp vay vốn tại NHPT thuộc các ngành nghề, lĩnh vực: kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; nông nghiệp nông thôn; công nghiệp; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn,...; dự án cho vay theo Hiệp định Chính phủ, dự án đầu tư ra nước ngoài,... với quy mô chủ yếu là dự án nhóm A, B. Giai đoạn 2006-2011: chỉ có 437 dự án của hơn 300 DNNVV làm chủ đầu tư vay vốn tín dụng đầu tư tại NHPT, trong đó chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực: hạ tầng giao thông, cung cấp điện nước, công nghiệp điện tử, cơ khí, khai thác,…  Tổng số vốn đã ký theo hợp đồng tín dụng cho 437 dự án nói trên gần 19.000 tỷ đồng. Như vậy, giai đoạn 2006-2012, chỉ có khoảng 72 dự án/năm được tiếp cận vốn vay tín dụng đầu tư với số vốn vay khoảng 43 tỷ đồng/dự án. Về tín dụng xuất khẩu: NHPT mới hỗ trợ được 162 DNNVV với tổng doanh số cho vay gần 17.000 tỷ đồng để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu sang hơn 120 nước.

- Các chính sách khác: Chính sách tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại tại các vùng khó khăn (Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg); các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và các doanh nghiệp hoạt động tại khu vực nông thôn (Nghị định số 41/2010/NĐ-CP và 61/2010/NĐ-CP); tiếp cận vốn từ các quỹ chuyên ngành (Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ khuyến công, Quỹ khuyến nông, Quỹ Bảo vệ môi trường, Quỹ Phát triển khoa học công nghệ quốc gia,...).

- Ngoài ra, để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn do suy thoái kinh tế trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã có nhiều biện pháp hỗ trợ về lãi suất, miễn, giảm, giãn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể là: gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho DNNVV nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế năm 2011 (Quyết định số 21/2011/QĐ-TTg); gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 của doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong một số ngành nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh (Quyết định số 54/2011/QĐ-TTg); gia hạn nộp thuế thêm 03 tháng đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Quý I, II/ năm 2011 của DNNVV, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động (Quyết định số 04/2012/QĐ-TTg)…

3. Về hỗ trợ tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sản xuất kinh doanh

Trong thời gian qua, các chính sách liên quan đến đất đai từng bước được sửa đổi, bổ sung theo hướng ngày càng thuận lợi hơn cho các DNNVV tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh. Để tạo quỹ đất cho các doanh nghiệp thuê, Bộ Tài Nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành thống kê và thu hồi đất hoang hóa, sử dụng không đúng mục theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê quỹ đất đang sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trong đó có kiểm kê các doanh nghiệp thuộc đối tượng tổ chức kinh tế đang quản lý, sử dụng mà được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất.

Các địa phương (Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang, Đăk Lăk,…) cũng đã tiến hành rà soát, thu hồi diện tích đất thuộc các dự án sử dụng không hiệu quả, không triển khai thực hiện để tạo quỹ đất cho doanh nghiệp có năng lực thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất thông qua việc thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển các khu, cụm công nghiệp, các làng nghề.

4. Về hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNNVV

- Hỗ trợ DNNVV đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật:

Trong thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, sửa đổi, bổ sung và từng bước hoàn thiện khung pháp luật liên quan đến các lĩnh vực sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, ứng dụng và phát triển công nghệ và thực hiện một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ… nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong đó có DNNVV, cụ thể đang tổ chức triển khai thực hiện các chương trình:

Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (Chương trình 68)[4]: Tính đến hết năm 2011, đã có 6 danh mục dự án được phê duyệt với tổng số 144 dự án; đã tổ chức 6 đợt tiếp nhận với tổng số 177 hồ sơ đăng ký chủ trì thực hiện dự án, 112 dự án được tuyển chọn thực hiện, trong đó 54 dự án đã kết thúc. Tổng kinh phí hỗ trợ từ Chương trình tính đến hết tháng 12/2011 là 74,705 tỷ đồng. Với sự hỗ trợ của Chương trình, đã có 53 đặc sản nổi tiếng của 42 địa phương trong cả nước đã và đang được hỗ trợ thiết lập, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ.

Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020 (Chương trình 712)[5]: Hiện Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai 02 dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt gồm Dự án “xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật” và Dự án “thúc đẩy hoạt động năng suất và chất lượng”.

Một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ[6]: Giai đoạn 2002-2007, đã nhận được 500 đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các doanh nghiệp và thực hiện triển khai được 111 đề tài với tổng kinh phí hỗ trợ là 105,8 tỷ đồng. Từ 2008 đến nay, đã và đang triển khai hỗ trợ cho 30 đề tài nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp (chủ yếu là DNNVV) thực hiện với tổng kinh phí khoảng 38 tỷ đồng và hiện đã giải ngân trên 15 tỷ đồng.

Bộ Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ bảo lãnh vay vốn cho 54 dự án sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng do 53 đơn vị thực hiện từ năm 2007 đến nay với tổng kinh phí bảo lãnh nguồn vốn vay khoảng 35 tỷ đồng. Hiện nay, thông qua Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia, các doanh nghiệp, tổ chức khoa học công nghệ được vay vốn với lãi suất ưu đãi để thực hiện các dự án ứng dụng kết quả nghiên cứu, đổi mới và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

Các chương trình khác: Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020,  Chương trình hỗ trợ thí điểm các DNNVV áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và các tiêu chuẩn quốc tế khác, Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020, Hỗ trợ kinh phí cho DN thực hiện đề tài nghiên cứu KH&CN,…

-  Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV:

Trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho DNNVV[7]: Năm 2011, ngân sách nhà nước hỗ trợ 20 tỷ đồng cho hoạt động trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các DNNVV. Các Bộ, ngành và tổ chức hiệp hội đã triển khai tổ chức được gần 200 khóa đào tạo về khởi sự doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp cho hơn 7.600 học viên với tổng kinh phí khoảng 13,5 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 8,3 tỷ đồng. Kinh phí ngân sách Trung ương hỗ trợ cho hoạt động này năm 2012 là 65 tỷ đồng.

Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực theo Chương trình khuyến công quốc gia: Hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề, nâng cao năng lực quản lý kinh doanh cho các cơ sở công nghiệp nông thôn cũng được chú trọng. Tổng kinh phí khuyến công quốc gia năm 2012 là 80 tỷ đồng và kinh phí khuyến công địa phương năm 2012 là 135 tỷ đồng.

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức pháp luật cho DNNV[8]: Chương trình 585 triển khai trên phạm vi toàn quốc, tập trung triển khai thí điểm tại 07 địa phương (Cần Thơ, Đắk Lắk, Đồng Nai, Quảng Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Hà Nội) và một số địa phương được lựa chọn. Năm 2011, Chương trình đã tổ chức được 32 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho gần 5.000 đại biểu gồm quản lý doanh nghiệp, cán bộ pháp chế doanh nghiệp và cán bộ thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên cả nước.

5. Xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường  

- Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia[9]: Giai đoạn 2006-2010, Bộ Công thương đã phê duyệt 669 đề án với kinh phí hỗ trợ của Nhà nước là 620,2 tỷ đồng. Năm 2011, 50 đề án được phê duyệt với tổng kinh phí gần 55 tỷ đồng. Năm 2012, Bộ Công Thương đã phê duyệt đợt 1 Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia năm 2012 với 46 đề án của 38 đơn vị chủ trì với tổng kinh phí là 43, 93 tỷ đồng. Dự kiến các chương trình năm 2012 sẽ tiếp tục hỗ trợ hàng nghìn lượt doanh nghiệp, trong việc duy trì quan hệ bạn hàng cũ và mở rộng quan hệ với nhiều đối tác mới, phát triển thị trường, quảng bá hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nội địa cũng như trên thị trường thế giới. Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia đã đạt được những kết quả thiết thực trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc khai thác, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; củng cố và phát triển thị trường trong nước; góp phần nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp.

- Hỗ trợ thông tin xúc tiến xuất khẩu: Bộ Công thương đang triển khai 2 hoạt động chính nhằm hỗ trợ DNNVV trong lĩnh vực thương mại điện tử gồm hoạt động hỗ trợ thông tin trong hoạt động xuất khẩu và đào tạo thương mại điện tử. Hoạt động hỗ trợ thông tin thị trường trong xuất khẩu được thực hiện thông qua 3 cổng thông tin gồm: Cổng thông tin Xuất khẩu Việt Nam (www.ttnn.com.vn), Cổng Thông tin xuất khẩu Việt Nam (www.vietnamexport.com) và Cổng thông tin Thương mại điện tử quốc gia (www.ecvn.com). Ba cổng thông tin này cung cấp cho doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV kênh thông tin thị trường chính thống và chuẩn xác.

- Hỗ trợ tiếp cận thông tin qua các trang web của hiệp hội ngành hàng và hỗ trợ thông tin thị trường cho hoạt động xuất khẩu thông qua 3 Cổng Thông tin: Cổng Thông tin Thị trường nước ngoài, Cổng Thông tin xuất khẩu Việt Nam, Cổng Thông tin Thương mại điện tử quốc gia. Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp thông qua: Cổng Thông tin Doanh nghiệp của Cục Phát triển doanh nghiệp (www.business.gov.vn), trang web của các Trung tâm Hỗ trợ DNNVV phía Bắc (www.hotrodoanhnghiep.gov.vn), miền Trung (www.tacdn.gov.vn) và phía Nam (www.unionb2b.com)...

Đánh giá chung: Trong quá trình triển khai thực hiện trợ giúp phát triển DNNVV, nổi lên một số vấn đề sau:

- Các chính sách, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đã được ban hành tương đối đầy đủ, nhưng ít DNNVV tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước. Nguyên nhân là phần lớn các chính sách, chương trình hỗ trợ chỉ hướng vào đối tượng doanh nghiệp nói chung, không ưu tiên hoặc dành riêng hỗ trợ DNNVV (trừ chính sách bảo lãnh tín dụng cho DNNVV và bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại NHTM thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam xác định rõ đối tượng hưởng thụ trực tiếp là các DNNVV). Vì vậy, trên thực tế, chủ yếu là các doanh nghiệp lớn tiếp cận được các chính sách, chương trình hỗ trợ của Nhà nước (ví dụ, chính sách tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP). Bên cạnh đo, nhiều cơ chế, chính sách đã ban hành, nhưng chậm trễ hoặc gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức triển khai thực hiện (điển hình là giảm 50% tiền thuê đất cho năm 2011 và 2012 cho các tổ chức kinh tế đang hoạt động trong các ngành sản xuất, nhưng thực hiện thủ tục tại các địa phương nhiều phức tạp, chưa được quyết định giảm tiền thuê đất cho doanh nghiệp, đặc biệt tại các thành phố lớn; chưa cụ thể hóa chính sách ưu đãi đầu tư tại các địa bàn nông thôn theo quy định tại Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 của Chính phủ nên chưa có cơ sở triển khai thực hiện…), nên chưa hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế suy thoái vừa qua.

- Nguồn lực dành cho hỗ trợ DNNVV hạn chế, nhưng còn dàn trải, phân tán, thậm chí chồng chéo… Hầu hết các địa phương chưa chủ động bố trí ngân sách để hỗ trợ cho DNNVV, nếu có thì cũng rất hạn chế so với nhu cầu hỗ trợ cao từ phía cộng đồng DNNVV (chỉ mới 19% được bố trí ngân sách riêng thực hiện công tác hỗ trợ cho doanh nghiệp). Nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được ban hành nhưng kinh phí chưa bố trí kịp thời để triển khai thực hiện. Một số chính sách, chương trình hỗ trợ có nội dung chồng chéo, trùng lắp do nhiều Bộ cùng thực hiện hoặc nhiều chính sách, chương trình do cùng một Bộ thực hiện (ví dụ, chương trình hỗ trợ khoa học công nghệ, các chương trình đào tạo nguồn nhân lực...).

- Một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 22/NQ-CP, dẫn đến nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ chưa được triển  khai thực hiện. Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương còn chưa chặt chẽ và một số Bộ, ngành, địa phương chưa dành sự quan tâm đúng mức cho việc tổ chức thực hiện Kế hoạch Phát triển DNNVV 5 năm cũng như báo cáo tình hình thực hiện, các giải pháp đã được giao trong Chương trình hành động phát triển DNNVV.

- Hệ thống cơ quan trợ giúp phát triển DNNVV chưa được hình thành đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Ở cấp Trung ương, cơ quan đầu mối trợ giúp phát triển DNNVV chỉ mới tập trung vào công tác xây dựng các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển DNNVV, chưa có đủ điều kiện để đẩy mạnh việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách, các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV do nguồn nhân lực hạn chế, cơ sở vật chất yếu kém và nguồn kinh phí thực hiện các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV hạn hẹp, kể cả một số hoạt động chính như đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp phát triển DNNVV... Ở cấp địa phương, hệ thống các cơ quan đầu mối về trợ giúp phát triển DNNVV chưa hoàn thiện và còn yếu. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước của tỉnh, thành phố trong lĩnh vực phát triển DNNVV còn thiếu, năng lực hạn chế và phần lớn chưa được qua đào tạo, bồi dưỡng về công tác trợ giúp phát triển DNNVV. Hiện cả nước mới chỉ có 20 tỉnh, thành phố thành lập đơn vị đầu mối có chức năng, nhiệm vụ về trợ giúp phát triển DNNVV ở địa phương. Phần lớn các đơn vị này được thành lập với mục đích triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp phát triển DNNVV nhưng hiện đang thực hiện nhiều chức năng, nhiệm vụ khác nhau như hỗ trợ đăng ký thành lập doanh nghiệp; xúc tiến, tư vấn đầu tư; hỗ trợ, tư vấn đấu thầu…  và được thành lập dưới mô hình tổ chức khác nhau như đơn vị cấp phòng (trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư) hoặc trung tâm (là đơn vị sự nghiệp công lập, trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc UBND cấp tỉnh). Vì vậy, kết quả việc triển khai các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV tại những địa phương này còn nhiều hạn chế.

III. Nội dung, định hướng, giải pháp trợ giúp phát triển DNNVV thời gian tới

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/5/2010 của Chính phủ và trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch Phát triển DNNVV 5 năm (giai đoạn 2006-2010), Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1231/QĐ-TTg ngày 07/9/2012 phê duyệt Kế hoạch Phát triển DNNVV giai đoạn 2011-2015. Theo đó, công tác trợ giúp phát triển DNNVV trong 5 năm tới (giai đoạn 2011-2015) cần tập trung vào một số định hướng chủ yếu sau:

(1) Tiếp tục hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định khung pháp lý, cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng cho DNNVV phát triển;

(2) Tạo bước đột phá để DNNVV tiếp cận vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay cho DNNVV;

(3) Hỗ trợ tăng cường năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ; đẩy mạnh chuyển giao, đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, năng lực cạnh tranh của DNNVV. Đẩy nhanh việc triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ, phổ biến, ứng dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến tới các DNNVV, khuyến khích hợp tác và chia sẻ công nghệ giữa DNNVV với DN lớn, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Khuyến khích DNNVV tham gia các chương trình liên kết ngành, liên kết vùng và phát triển công nghiệp hỗ trợ;

(4) Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực có kỹ năng cho DNNVV. Chú trọng đào tạo nghề các ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ cao để chuyển dịch cơ cấu lao động từ thô sơ sang lao động có tay nghề trình độ, đáp ứng yêu cầu phát triển của DNNVV trong giai đoạn mới. Lồng nghép các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV trong đề án phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Khuyến khích doanh nghiệp thành lập hoặc liên kết với cơ sở dạy nghề trong đào tạo và giải quyết việc làm. Phát triển đồng bộ thị trường lao động; phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu về thị trường lao động, các hình thức thông tin thị trường lao động nhằm kết nối cung cầu lao động;

(5) Cải thiện tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất, tăng cường bảo vệ môi trường thông qua việc lập và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tạo điều kiện phát triển các khu cụm công nghiệp có quy mô hợp lý, có giá thuê phù hợp với khả năng của DNNVV; hỗ trợ di dời các DNNVV gây ô nhiễm, tác hại đến môi trường tại các khu dân cư và đô thị đến các khu cụm công nghiệp;

(6) Hình thành mạng lưới hệ thống thông tin hỗ trợ DNNVV để cung cấp thông tin về các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp, các chính sách, chương trình trợ giúp phát triển DNNVV và các thông tin khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

(7) Nâng cao hiệu quả điều phối thực hiện các hoạt động trợ giúp phát triển DNNVV, tăng cường vai trò của Hội đồng Khuyến khích Phát triển DNNVV; tăng cường năng lực cho các địa phương về quản lý, xúc tiến, phát triển DNNVV.

Để thực hiện trợ giúp phát triển DNNVV theo các định hướng nêu trên, Kế hoạch Phát triển DNNVV 5 năm (2011-2015) đã đề xuất 8 nhóm giải pháp gồm:

(1) Hoàn thiện khung pháp lý về gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp;

(2) Hỗ trợ tiếp cận tài chính, tín dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DNNVV;

(3) Hỗ trợ đổi mới công nghệ và áp dụng công nghệ mới trong các DNNVV;

(4) Phát triển nguồn nhân lực cho các DNNVV, tập trung vào nâng cao năng lực quản trị cho các DNNVV;

(5) Đẩy mạnh hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai cho các DNNVV;

(6) Cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV và xúc tiến mở rộng thị trường cho DNNVV;

(7) Xây dựng hệ thống tổ chức trợ giúp phát triển DNNVV;

(8) Quản lý thực hiện Kế hoạch phát triển DNNVV.

Trong mỗi nhóm giải pháp nêu trên gồm có một số giải pháp cụ thể, có phân công cơ quan chủ trì, thời gian dự kiến thực hiện.

Nhằm đẩy mạnh hoạt động trợ giúp phát triển DNNVV trong thời gian tới (giai đoạn 2012-2013), đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng gặp nhiều khó khăn trong năm 2012 và dự kiến sẽ còn gặp nhiều khó khăn những năm tiếp theo, cần tập trung nghiên cứu và triển khai thực hiện một số nhóm giải pháp và phương thức hỗ trợ mang tính đột phá, mạnh mẽ hơn, cụ thể là:

- Thành lập Quỹ Phát triển DNNVV: Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và Nghị quyết số 22/NQ-CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 12/2011. Mục đích của Quỹ là hỗ trợ tài chính cho các DNNVV có các dự án, phương án sản xuất-kinh doanh khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích của Nhà nước nhằm tăng thu nhập, tạo việc làm cho người lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần thực hiện một số mục tiêu chung của Nhà nước về phát triển DNNVV. Quỹ sẽ ủy thác cho các tổ chức tín dụng cho vay ưu đãi đối với các DNNVV có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích phát triển của Nhà nước.

- Đẩy mạnh triển khai thực hiện các chương trình đổi mới, ứng dụng công nghệ, chú trọng phát triển công nghệ cao nhằm tạo ra các sản phẩm mới, trang thiết bị, máy móc hiện đại, cụ thể: Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020...;

- Thí điểm xây dựng vườn ươm doanh nghiệp trong một số lĩnh vực ưu tiên, tập trung vào đổi mới sáng tạo, phát triển các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao, có tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường;

- Thí điểm xây dựng mô hình hỗ trợ toàn diện cho DNNVV trong một số lĩnh vực lựa chọn, bước đầu triển khai thí điểm tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh và nhân rộng mô hình thành công sang các địa phương khác; trong đó ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển, đầu tư đổi mới phát triển sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến;

- Thúc đẩy các liên kết kinh tế, cụm liên kết ngành: Hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai cho DNNVV thông qua đẩy nhanh việc hoàn thiện và phê duyệt Đề án phát triển cụm công nghiệp, khu công nghiệp gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ, tạo mạng lưới liên kết sản xuất và hình thành chuỗi giá trị.

IV. Đề xuất các nội dung thảo luận tại kỳ họp

Nhằm đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển DNNVV trong giai đoạn 2012-2013, Cục Phát triển doanh nghiệp xin đề xuất một số nội dung thảo luận tại kỳ họp lần này, cụ thể gồm:

1. Đẩy mạnh triển khai thực hiện Kế hoạch Phát triển DNNVV 5 năm 2011-2015

Ngày 7/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1231/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch Phát triển DNNVV giai đoạn 2011-2015. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để các Bộ, ngành, địa phương triển khai chương trình hành động của Bộ ngành, địa phương mình nhằm trợ giúp cho DNNVV.

Để tổ chức triển khai hiệu quả Kế hoạch, các Bộ, ngành, địa phương cần lồng ghép các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV với các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án, các chương trình mục tiêu của các Bộ, ngành, địa phương liên quan nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

Hội đồng Khuyến khích phát triển DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi, đôn đốc, giám sát tình hình thực hiện các giải pháp của các Bộ, ngành nhằm đảm bảo điều phối liên Bộ hiệu quả. Các thành viên của Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV là đại diện của các Bộ, ngành liên quan giữ vai trò quan trọng, làm đấu mối theo dõi, chỉ đạo, đôn đốc nhóm giải pháp liên quan của Bộ, ngành mình theo nhiệm vụ được giao tại Chương trình hành động phê duyệt kèm theo Quyết định 1231/QĐ-TTg để kịp thời báo cáo Chủ tịch Hội đồng.

Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với vai trò đầu mối tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch, đồng thời là thư ký thường trực Hội đồng sẽ xây dựng Khung theo dõi, đánh giá thực hiện Kế hoạch phát triển DNNVV 2011-2015. Khung theo dõi đánh giá thực hiện Kế hoạch là công cụ hiệu quả để đo lường, đánh giá tác động và kết quả của các giải pháp so với mục tiêu đề ra.

Cục Phát triển doanh nghiệp sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng Báo cáo giữa kỳ và cuối kỳ trên cơ sở Khung theo dõi đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch để tổng hợp, báo cáo Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV và Thủ tướng Chính phủ  nhằm kịp thời đưa ra các điều chỉnh cần thiết đối với các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai Kế hoạch. Cục Phát triển doanh nghiệp sẽ tổ chức làm việc thường xuyên với các Bộ ngành liên quan và các địa phương để đảm bảo kế hoạch được triển khai đúng chất lượng và tiến độ.

Tại cấp địa phương, Cục Phát triển doanh nghiệp sẽ phối hợp với các địa phương để tổ chức phổ biến, hướng dẫn các địa phương thực hiện Kế hoạch trên địa bàn. Cục Phát triển doanh nghiệp dự kiến lựa chọn một số địa phương tiêu biểu và phối hợp với một số nhà tài trợ (ILO, JICA v.v...) để tổ chức triển khai thí điểm một số chương trình trợ giúp DNNVV, trên cơ sở đó sẽ nhân rộng ra các địa phương khác.

Ngoài việc điều phối tổ chức triển khai Kế hoạch, Cục Phát triển doanh nghiệp sẽ chủ động phối hợp với các đơn vị trong Bộ (Tổng Cục thống kê, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Cục Quản lý Đấu thầu, Vụ Pháp chế v.v... và các đơn vị liên quan) để thực hiện các chương trình hành động thuộc chức năng nhiệm vụ của Bộ theo chương trình hành động đề ra trong Kế hoạch.

2. Định hướng công cụ và mô hình trợ giúp phát triển DNNVV

2.1. Tăng cường hỗ trợ tiếp cận tài chính cho DNNVV thông qua thành lập Quỹ Phát triển DNNVV

Trong bối cảnh doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn hiện nay thì khó khăn lớn nhất vẫn là tiếp cận tài chính, đặc biệt là các DNNVV; trong đó lãi suất vay vốn cao và khó đáp ứng các điều kiện vay là hai nguyên nhân chính khiến các DNNVV khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Đặc biệt, trong 2 năm gần đây, lãi suất vay liên tục ở mức cao và trong thời gian dài cùng với các điều kiện cho vay của ngân hàng bị thắt chặt, dẫn đến tình trạng thiếu vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ của DNNVV, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, kiến nghị các thành viên Hội đồng xem xét, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ sớm phê duyệt quyết định thành lập Quỹ Phát triển DNNVV là giải pháp hết sức cấp bách và cần thiết nhằm hình thành một định chế tài chính Nhà nước với nguồn kinh phí tập trung dành riêng để hỗ trợ tài chính cho các DNNVV có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi nhằm tăng thu nhập, tạo việc làm cho người lao động; nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp tạo ra sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

2.2. Định hướng mô hình và hoạt động của cơ quan đầu mối triển khai thực hiện chính sách trợ giúp phát triển DNNVV ở Trung ương và địa phương

Như đề cập ở trên, hệ thống cơ quan trợ giúp phát triển DNNVV chưa được hình thành đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan đầu mối triển khai thực hiện chính sách trợ giúp phát triển DNNVV chưa hoàn thiện và còn yếu. Trong thời gian tới, nhằm từng bước xây dựng, củng cố hệ thống trợ giúp phát triển DNNVV, xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ Đề án tăng cường năng lực cho cơ quan đầu mối triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp phát triển DNNVV, kiến nghị các thành viên Hội đồng có ý kiến chỉ đạo đối với xây dựng định hướng mô hình và hoạt động của cơ quan đầu mối triển khai thực hiện chính sách trợ giúp phát triển DNNVV ở Trung ương và địa phương.

 

 

 

 

 



[1] Theo quy định tại Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại NHTM

[2] Thành lập theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV

[3] Theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước (thay thế Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ)

[4] Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg ngày 04/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp và Quyết định số 2204/QĐ-TTg ngày 06/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2011-2015.

[5] Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020.

[6] Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành. Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 119/1999/NĐ-CP trình Thủ tướng Chính phủ.

[7] Thông tư liên tịch số 05/2011/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 31/3/2011 hướng dẫn trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho DNNVV.

[8] Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và Quyết định số 585/2010/Đ-TTg ngày 05/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp (Chương trình 585).

[9] Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article