Trong nhiệm kỳ khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành một số Nghị quyết quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, trong đó khẳng định vai trò, vị trí ngày càng quan trọng của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo (ĐMST) đối với sự phát triển đất nước trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tăng tốc. Đặc biệt, hoạt động ĐMST được đánh giá là có tác động tích cực, đóng góp quan trọng vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tăng lợi thế cạnh tranh, giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất, nâng cao sự hài lòng của người lao động. Bằng chứng cho thấy có nhiều nghiên cứu liên quan đến đánh giá mối quan hệ giữa hoạt động ĐMST và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 
      
      Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra 4 loại ĐMST liên quan đến một loạt thay đổi trong hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới tổ chức hoạt động và đổi mới tiếp thị. Trong phạm vi bài nghiên cứu này, dựa trên số liệu của điều tra công nghệ của Tổng cục Thống kê (GSO) giai đoạn 2012-2017[1] và các nguồn thứ cấp khác, phân tích một bức tranh thực trạng đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ở Việt Nam.

 

Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ có tỷ lệ đầu tư thấp
 

Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ (R&D) là một trong những hoạt động đầu tiên và quan trọng nhằm thúc đẩy ĐMSTcủa doanh nghiệp. Hoạt động R&D thường bao gồm hoạt động như nghiên cứu nhằm đổi mới sản phẩm hoặc quy trình sản xuất; hay nghiên cứu để tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm hoặc nâng cấp công nghệ, quy trình sản xuất nhập ngoại cho phù hợp với điều kiện cụ thể.  

Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ (%)

 
 

Nguồn cho hình 1 và 2: Điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê các năm
 

Theo số liệu GSO giai đoạn 2012-2017, theo qui mô, tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động R&D chiếm từ 1-5% đối với doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ; chiếm 6-12% đối với doanh nghiệp vừa và lớn; theo loại hình doanh nghiệp, tỉ lệ doanh nghiệp nhà nước cao nhất (25%), tiếp đến doanh nghiệp ngoài nhà nước (6%) và doanh nghiệp FDI (5%). Xem xét một số nghiên cứu trước đây cũng cho thấy kết quả tương tự như: GSO (2014) cho thấy R&D chỉ chiếm 6,23% trong tổng số 7.450 doanh nghiệp, chứng tỏ số lượng các doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm đến các hoạt động R&D là rất lớn, các doanh nghiệp tiến hành R&D đa phần phục vụ mục đích ứng dụng, vận hành công nghệ hơn là đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, chi tiêu R&D bình quân/lao động của Việt Nam hiện rất thấp so với các nước trong khu vực.Theo nghiên cứa của Viện Hàn lâm Khoa học và xã hội Việt năm 2015, Việt Nam chỉ chi 15 USD/người cho R&D trong đó Thái Lan là 64 USD/người, Malaysia là 260 USD/người, Trung Quốc là 300 USD/người, Nhật Bản là hơn 2.300 USD/người. Theo Báo cáo GII (2019) chỉ ra chi phí R&D tuy tăng 6 bậc nhưng vẫn ở mức chi thấp tương đượng 0,4%/GDP và không thay đổi so với năm trước.

 

Cải tiến chất lượng sản phẩm là chiến lược được nhiều doanh nghiệp lựa chọn nhất
 

Chiến lược đổi mới và tổ chức cái tiến công nghệ của doanh nghiệp là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, thường bao gồm: cải tiến qui trình sản xuất; cải tiến chất lượng sản phẩm; mở rộng nhiều loại sản phẩm; mở rộng hoạt động vào một lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới; thay đổi hoạt động sang lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác.

 

Chiến lược đổi mới và tổ chức cải tiến công nghệ của doanh nghiệp (%) 
 

 


 

Nguồn cho hình 1 và 2: Điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê các năm

 

Theo số liệu GSO giai đoạn 2012-2017, cải tiến chất lượng sản phẩm là hạng mục chiếm tỷ lệ trung bình cao nhất, đạt mức 75%; tiếp đến là qui trình sản xuất với  mức 67%; mở rộng nhiều loại sản phẩm chiếm 43% doanh nghiệp lựa chọn. Trong đó, hai hạng mục mở rộng hoạt động vào một lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới và thay đổi hoạt động sang lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác chỉ chiếm 11% và 3% doanh nghiệp lựa chọn.

Xét kỹ hơn theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước có chiến lược đổi mới và cải tiến công nghệ với tỷ lệ cao nhất ở hầu hết các hạng mục, tiếp đến doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp FDI. Lý giải về việc doanh nghiệp trong nước thường có tỷ lệ cao hơn doanh nghiệp FDI, vì phần lớn doanh nghiệp trong nước là doanh nghiệp nhỏ và vừa cần có nhu cầu đổi mới và tổ chức cải tiến công nghệ trong khi doanh nghiệp FDI thường là những doanh nghiệp đến từ nước công nghiệp phát triển có công nghệ, kỹ thuật, phương thức quản lý tiên tiến hơn.

Chi phí mua công nghệ máy móc sản xuất và truyền thông chủ yếu từ doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp lớn.

 

Chi phí mua công nghệ máy móc sản xuất và truyền thông (triệu đồng)
 

 

Nguồn: Điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê các năm
 

Theo phân tích ở trên, mặc dù tỷ lệ lựa chọn của doanh nghiệp FDI về chiến lược đổi mới & tổ chức cải tiến công nghệ và hoạt động R&D thấp hơn doanh nghiệp trong nước, nhưng chi phí công nghệ máy móc sản xuất và truyền thông bình quân cao gấp 3,8 lần so với doanh nghiệp nhà nước và 3,9 lần so với doanh nghiệp ngoài nhà nước. Theo qui mô doanh nghiệp, trung bình doanh nghiệp lớn có mức chi phí cao nhất, cao gấp 2,6 lần doanh nghiệp vừa; hơn 9,5 lần doanh nghiệp nhỏ; so với doanh nghiệp siêu nhỏ là 26 lần. Điều này chỉ ra rằng, các doanh nghiệp Việt Nam “ngại” đầu tư cho đổi mới công nghệ, và tập trung chủ yếu ở doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp lớn.

Theo GSO (2014), tỉ trọng đầu tư cho KHCN của doanh nghiệp chỉ khoảng 1% GDP và tập trung vào các doanh nghiệp lớn (chủ yếu khối doanh nghiệp nhà nước). Thực tế cho thấy, khu vực doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như chưa tham gia nhiều vào hoạt động R&D và đầu tư mua máy móc sản xuất và truyền thông. Đa phần các doanh nghiệp đổi mới công nghệ một cách thụ động, mang tính tình huống, do nhu cầu phát sinh trong quá trình kinh doanh, không có kế hoạch dài hạn, phương thức được sử dụng nhiều nhất lại là nguồn công nghệ nhập khẩu.

 

Chi phí mua công nghệ máy móc sản xuất và truyền thông phân theo ngành                                                                                                           (triệu đồng)
 

Ngành

2012

2013

2014

2015

2016

2017

Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá

951.77

1195.72

3126.89

1658.75

2111.39

2224.73

Dệt may, da giày

1591.17

2130.89

2648.98

2871.84

2840.59

2799.89

Gỗ và sản phẩm gỗ

466.87

682.72

1102.90

741.18

1483.52

1459.12

Hoá chất, dược phẩm

2673.05

1916.68

924.50

1245.94

2010.23

1919.61

Cao su, plastic

2619.64

2542.83

3236.02

2166.55

2375.62

2304.74

Kim loại và sản phẩm kim loại

1334.70

2409.80

1286.98

1600.36

2104.73

2087.27

Điện tử và Máy móc thiết bị

3689.61

2833.11

4427.92

3077.77

4579.83

4627.98

Phương tiện vận tải

4097.21

3449.58

5881.48

3531.61

4053.75

4770.17

Chế biến chế tạo khác

1674.42

2156.68

1479.89

1296.91

1284.29

1216.08

Chung

1645.92

1930.57

2327.31

1833.36

2246.18

2254.06

 

Nguồn: Điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê các năm

 

         Số liệu bảng trên cho thấy, chi phí bình quân mua công nghệ máy móc sản xuất và truyền thông có xu hướng tăng, mức 1.645 triệu đồng năm 2012 lên 2.254 triệu đồng năm 2017. Phân tích sâu hơn, có thể thấy ngành phương tiện vận tải; điện tử và máy móc thiết bị là những ngành có chi phí mua cao nhất, tương ứng với 4.770 triệu đồng và 4.627 triệu đồng năm 2017. Ngành có chi phí mua thấp là ngành gỗ và sản phẩm gỗ, tuy nhiên mức đầu tư năm 2017 tăng mạnh, gấp 2 lần năm 2015 và hơn 3 lần năm 2012. Ngành chế biến chế tạo khác cũng là ngành có chi phí đầu tư thấp và có xu hướng giảm trong cả giai đoạn./.

[1] Mẫu điều tra năm 2012: 7.342 doanh nghiệp; 2013: 6.927 doanh nghiệp; 2014: 4.711 doanh nghiệp; 2015: 4.855 doanh nghiệp; 2016: 4.171 doanh nghiệp; 2017: 4.365 doanh nghiệp. 

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article