Nhà nước cần có chính sách tập trung, tạo hành lang pháp lý ưu tiên hỗ trợ lao động thuộc loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn thông qua tư vấn, đào tạo nghề và cập nhật kiến thức cho đội ngũ lao động có trình độ hết cấp ba, kể cả đội ngũ có trình độ cao đẳng nhằm đáp ứng trình độ nghề.

Kết quả khảo sát cho thấy loại hình DN nhỏ thuộc loại hình Công ty TNHH với các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, và dịch vụ thương mại chiếm tỷ trọng cao. Nhà nước cần có chính sách tập trung, tạo hành lang pháp lý ưu tiên hỗ trợ lao động thuộc loại hình DN TNHH thông qua tư vấn, đào tạo nghề và cập nhật kiến thức cho đội ngũ lao động có trình độ hết cấp ba, kể cả đội ngũ có trình độ cao đẳng nhằm đáp ứng trình độ nghề.

1.       Kiến nghị hỗ trợ lượng lao động trong các DN tham gia chuỗi
 Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, ưu tiên DN chuỗi NLTS bằng hỗ trợ lao động phổ thông thông qua hoạt động dạy nghề, nâng cao kỹ năng nghề, đồng thời tăng cường đào tạo và tập huấn cho lực lượng cán bộ quản lý trong DN thuộc chuỗi tham gia các chương trình quản trị doanh nghiệp do các cơ quan trung ương và địa phương, các hiệp hội, trung tâm xúc tiến thương mại, các trung tâm hỗ trợ phát triển DNNVV tổ chức.

 2.       Kiến nghị chính sách nhằm nâng cao năng suất của người lao động trong DN

 DN chuỗi NLTS hiện nay hoạt động theo cơ chế thị trường nên việc tuyển dụng và sử dụng lao động hiệu quả là thước đo sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của từng DN.

 Đối với những lao động chỉ đáp ứng 2/3 yêu cầu của DN khảo sát, tùy theo mục tiêu, mỗi DN cần định hướng phát triển nghề nghiệp cho lao động, ví dụ, lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học hoặc trên đại học thì DN nên đào tạo tập huấn cho những đối tượng này thông qua các chương trình đào tạo nâng cao nghiệp vụ quản lý theo Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BKHĐT-BTC về định hướng công tác đào tạo cho DNNVV theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; đối với lực lượng lao động phổ thông (trình độ hết cấp 2 cấp 3) thì DN nên tập trung đào tạo nâng cao tay nghề dựa trên các chương trình đào tạo nghề quốc gia (Bộ LĐTB&XH, Bộ Nông nghiệp & PTNT) gắn với nhu cầu thực tiễn của từng DN.

 3.       Đề xuất nâng cao hiệu quả kinh doanh của các DN tham gia chuỗi giá trị NLTS, và DVTM

 Số DN nhỏ và siêu nhỏ năm 2015-2016 sẽ giảm khoảng 11% ở giai đoạn 2016-2017; các DN cùng loại này có doanh thu từ (5,0-10,0 tỷ) sẽ tăng 7% trong ky 2016-2017. Như vậy, xét theo giá trị trung bình, tốc độ tăng số DN nhỏ và siêu nhỏ (có doanh thu từ 1,0-10,0 tỷ) sẽ tăng khoảng 9,0% ở giai đoạn 2016-2017. Nhà nước cần có chính sách đồng bộ, tập trung hỗ trợ nhiều hơn về mọi mặt cho các DN thuộc loại hình nhỏ (xét theo cấp độ doanh thu) và DN vừa tham gia chuỗi ngành hàng NLTS, và DVTM. Tuy nhiên, cần lưu ý đến số DN giảm qui mô kinh doanh hoặc giải thể.

 Nhà nước cần có giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN tham gia chuỗi NLTS đang trong quá trình giải thể hoặc ngừng kinh doanh vì kinh doanh thua lỗ kéo dài, nguyên nhân chính là (i) thiếu vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh; (ii) thiết bị công nghệ lạc hậu; (iii) giá đầu vào (vật tư nguyên liệu, giống, v.v.) tăng cao; (iv) thiếu nhân công lành nghề, tăng lương; (v) Cạnh tranh thị trường khốc liệt (giá bán, chủng loại, chất lượng sản phẩm, v.v.).

 4.       Đề xuất biện pháp tăng năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh của các DN tham gia chuỗi giá trị NLTS, và DVTM

 Khi tham gia vào chuỗi giá trị NLTS nói riêng, toàn cầu nói chung thì khó khăn lớn nhất của DN NLTS vẫn là vốn, trình độ nguồn nhân lực và công nghệ. Hiện, chỉ có 30% các DNNVV tiếp cận được nguồn vốn qua kênh ngân hàng. Nguyên nhân chính được xác định là hầu hết các doanh nghiệp đều thiếu kinh nghiệm, không đủ tài sản đảm bảo, báo cáo tài chính không minh bạch, đầy đủ.

 Trong bối cảnh hội nhập, các DN NLTS cần phải xác định được thế mạnh để lựa chọn chuỗi cung ứng sao cho phù hợp với xu hướng, đồng thời phải nắm bắt những gì thị trường trong nước và quốc tế mang lại. Từ đó, đặt ra những kế hoạch để phát triển của riêng DN mình.  

 Việc cần làm thời điểm này là phải tạo chuỗi liên kết ngành NLTS để phát triển, cải thiện các yếu tố đầu vào sản xuất đối với các DN. Cùng với đó, các bộ, ngành, hiệp hội nghề cũng cần đẩy mạnh việc triển khai các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

 Kết quả khảo sát gợi ý nhà nước nên tập trung hỗ trợ ưu tiên theo thứ tự giảm dần là (i) DN tham gia chuỗi thuộc khu vực nông nghiệp, tiếp theo là (ii) DN thuộc chuỗi lâm nghiệp và dịch vụ; (iii) cuối cùng là các DN thuộc chuỗi thủy sản (do loại hình DN thủy sản có cấu trúc liên kết chuỗi chặt, đa phần đầu tư chiều sâu công nghệ, tổ chức sản xuất hợp lý hơn so với các ngành khác). 

 5.       Giải pháp hạn chế khó khăn của DN khi tham gia và duy trì hoạt động chuỗi giá trị

 Chính phủ cần ưu tiên hỗ trợ các DN tham gia chuỗi NLTS do gặp nhiều khó khăn nhất: Những yếu tố chính các DN cần hỗ trợ là: (i) Tạo sự liên kết chặt chẽ từ khâu hoàn thiện sản phẩm đến thị trường tiêu thụ sản phẩm; (ii) Tư vấn cho DN về chính sách định giá sản phẩm phù hợp với tình hình biến động thị trường thủy sản; (iii) Hỗ trợ DN về giống, phòng dịch bệnh, khắc phục sự cố môi trường, thiên tai…); (iv) Hỗ trợ DN thuê kho bãi, nơi bảo quản sản phẩm; (v) Phối hợp với DN tổ chức tốt chiến dịch tuyên truyền quản bá sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương, trong nước và quốc tế.

 6.       Kiến nghị chính sách và biện pháp tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các NHTM đối với DN

 Việc tiếp cận nguồn vốn của các DN siêu nhỏ và nhỏ trong lĩnh vực NLTS, và DVTM còn gặp nhiều khó khăn. Nhà nước và các NHTM nên hỗ trợ DN thông qua việc gở bỏ hợp lý rào cản, đặc biệt là (i) tăng thời hạn vay vốn cho các DN có kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh dài hạn; (ii) tăng hạn mức cho vay phù hợp với với nhu cầu của DN; (iii) Linh hoạt mức lãi suất cho DN vay vốn; (iv) giảm thời gian thẩm định hồ sơ vay vốn.

 Cần thiết phải triển khai các hoạt động tư vấn, hỗ trợ vay vốn và điều chỉnh lại điều kiện tín dụng phù hợp với các DN. Mặt khác, cần phối hợp đồng bộ giữa cơ chế quản lý và tín dụng nhằm hợp lý hóa thủ tục cho vay, đẩy nhanh tốc độ giải ngân, xây dựng quy trình cho vay phù hợp với DN, áp dụng điều kiện cho vay phù hợp, cắt giảm các chi phí giao dịch không chính thức.

 7.       Kiến nghị chính sách và biện pháp về miễn, giảm, dãn thuế của nhà nước đối với DN

 Nhà nước đã và đang áp dụng nhiều chính sách miễn, giảm, dãn thuế cho các DN NLTS. Theo đó, các mặt hàng NLTS thô hoặc sơ chế của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt đem bán ra sẽ không thuộc đối tượng chịu thuế.

 Thực tế khảo sát cho thấy, chỉ có khoảng 1/4 DN thuộc chuỗi được hưởng sự hỗ trợ này của nhà nước. Khoảng 3/4 DN còn lại vẫn chưa thể tiếp cận hoặc không biết rõ các chính sách này, và số DN này cho rằng hồ sơ thủ tục rườm rà, mất thời gian, ưu đãi thuế là không hấp dẫn nên không quan tâm đến chính sách hỗ trợ thuế của CP.

 8.       Đề xuất chính sách hỗ trợ của nhà nước để nâng cao năng lực công nghệ cho DN

 Mặc dù đối tượng hỗ trợ là các DN thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam. Phạm vi hỗ trợ thuộc lĩnh vực nghiên cứu KHCN được nhà nước ưu tiên khuyến khích DN thực hiện nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, vì vậy, Chính phủ cần có những điều chỉnh để nâng cao hiệu quả các hỗ trợ của nhà nước nhằm nâng cao trình độ công nghệ cho các DN có chỉ số “phù hợp” với nhu cầu của các DN.

 Phần lớn các DN tham gia khảo sát không nhiệt tình tiếp nhận những hỗ trợ này vì DN thường không muốn đầu tư nhiều thời gian vào nghiên cứu KHCN, mức hỗ trợ không hấp dẫn, phương thức hỗ trợ và hồ sơ đăng ký rườm rà. Để tăng cường tính hữu ích của họat động này cần thực hiện các hoạt động sau đây: (i) Hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới công nghệ; (ii) Hỗ trợ tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện và làm chủ công nghệ; (iii) Hỗ trợ xây dựng và đạt các tiêu chuẩn tiên tiến cho sản phẩm, quản lý quy trình sản xuất, môi trường; (iv) Hỗ trợ phân tích, đánh giá, định giá, kết nối cung cầu, phát triển thị trường công nghệ; (v) Hỗ trợ xác lập, khai thác, quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của DN; (vi) Hỗ trợ DN liên kết với các tổ chức KHCN, và các DN khác; (vii) DN được ưu tiên lựa chọn và hỗ trợ kinh phí để chuyển giao, hoàn thiện việc ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm thành lập DN KHCN.

 9.       Kiến nghị chính sách hỗ trợ mặt bằng kinh doanh cho DN

 Chính sách hỗ trợ mặt bằng của nhà nước đã có những tác động tích cực, mặc dù vậy phạm vi tác động của chính sách này còn hạn chế do các nguyên nhân khác nhau.

 Nhà nước cần tổ chức nhiều kênh hỗ trợ thông tin (trên truyền hình, internet, phổ biến qua hội nghị hội thảo, qua tập huấn nghiệp vụ, ở các Trung tâm địa chính thuộc Sở tài nguyên và môi trường, v.v.) về điều kiện cho thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh trong và ngoài khu/cụm CN; đơn giản hóa thủ tục về điều kiện cho thuê mặt bằng khu/ cụm công nghiệp; hỗ trợ giải pháp, biện pháp tiếp cận vốn, giá và thuế thuê mặt bằng hợp lý, có quy định rõ ràng về các loại phí, thuế, và có lộ trình cho thuê cụ thể.

 10.     Kiến nghị chính sách hỗ trợ DN chuỗi NLTS, và DVTM tham gia các chương trình xúc tiến thương mại

 Các hoạt động hỗ trợ kết nối và tham gia vào các chuỗi giá trị đã có những tác động tích cực đến cộng đồng DN nói chung, XTTM trong nước được đầy mạnh, DN nhiệt tình tham gia (80,4%). Tuy nhiên, hoạt động này cần được cải tiến để phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của DN NLTS: Kết quả ở trên cho thấy còn một bộ phận lớn (92,5%) các DN chưa chú trọng vào hoạt động xúc tiến thương mại ngoài nước.

 Vì vậy, Chính phủ cần ưu tiên hỗ trợ XTTM giai đoạn 2016-2017 đối với các DN NLTS những nội dung sau đây:

 - Hỗ trợ thông tin thị trường, tổ chức nghiên cứu thị trường, xây dựng cơ sở dữ liệu các thị trường xuất khẩu trọng điểm theo ngành hàng truyền thống NLTS. Hỗ trợ điều tra, khảo sát, nghiên cứu thị trường trong nước; xây dựng cơ sở dữ liệu các mặt hàng quan trọng, thiết yếu; nghiên cứu phát triển hệ thống phân phối, cơ sở hạ tầng thương mại.

 - Hỗ trợ DN NLTS quảng bá hình ảnh ngành hàng, chỉ dẫn địa lý nổi tiếng của vùng, miền ra thị trường nước ngoài. Hỗ trợ các chi phí thuê chuyên gia trong và ngoài nước để tư vấn phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển xuất khẩu, thâm nhập thị trường nước ngoài.

 - Hỗ trợ đào tạo, tập huấn ngắn hạn trong và ngoài nước nhằm nâng cao nghiệp vụ xúc tiến thương mại; Quảng bá, tổ chức cho các DN chuỗi tham gia hội chợ triển lãm thương mại trong và ngoài nước đối với sản phẩm NLTS, vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, giới thiệu các sản phẩm của DN Việt Nam đến người tiêu dùng theo quy mô thích hợp cho từng địa phương.

 11.     Kiến nghị chính sách hỗ trợ của nhà nước về dịch vụ công và hạ tầng đối với các DN tham gia chuỗi                                             

           - Chính sách dịch vụ công nhằm hỗ trợ các DN tăng cường liên kết và tham gia vào các chuỗi giá trị: Việc xây dựng và duy trì hệ thống hỗ trợ các dịch vụ công cho DN chuỗi NLTS nên được coi là một ưu tiên hàng đầu trong chính sách công hỗ trợ DN nói chung.           Kết quả khảo sát gợi ý Chính phủ nên phân cấp, giao quyền hơn nữa cho các cơ quan quản lý, các đơn vị trợ giúp DNNVV ở địa phương trực tiếp triển khai thực hiện các đề án hỗ trợ DNNVV của trung ương.

           - Chính sách hỗ trợ của nhà nước về cơ sở hạ tầng đối với DN tham gia chuỗi giá trị NLTS: Cần cải thiện năng lực vận tải của các DN thuộc chuỗi dựa trên sự hỗ trợ của nhà nước về cơ chế lưu thông phân phối sử dụng đường sắt, tận dụng lợi thế giao thông đường bộ. Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ các dịch vụ theo thứ tự ưu tiên giảm dần như: điện thoại-viễn thông, điện, nước sạch, cầu- cảng, hệ thống sử lý chất thải, nối cảng và đường bộ, nối đường sắt và đường bộ; đường kết nối giữa cảng và đường sắt. 

 12.     Kiến nghị Chính phủ tăng cường hỗ trợ hoạt động phân phối tiêu thụ vật tư và sản phẩm của các DN tham gia chuỗi giá trị

           Kết quả phân tích trên cho thấy vai trò chủ đạo trong cung cấp vật tư và tiêu thụ sản phẩm của các DN tham gia chuỗi giá trị là các DN tư nhân, cá nhân, và DN xuất khẩu. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực NLTS tập trung chủ yếu kinh doanh cung cấp dịch vụ vật tư đầu vào và làm trung gian phân phối tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Vì vậy, việc thúc đẩy DN tham gia chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, mang lại hiệu quả cao cho người sản xuất và người tiêu dùng cần được Chính phủ quan tâm hơn nữa.

  13.     Hỗ trợ của Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả các tác nhân trong chuỗi cung ứng

           DN tham gia chuỗi cung ứng sẽ đạt hiệu quả cao trong việc tiếp nhận thông tin giữa các khâu trong chuỗi, đồng thời giảm chi phí giao dịch giữa các đối tác tham gia chuỗi, do vậy, lựa chọn giải pháp công nghệ tối ưu nhằm gia tăng năng suất và chất lượng sản phẩm; cải thiện tỷ lệ đáp ứng sở thích và thị hiếu người tiêu dùng để thu được lợi nhuận đặc biệt.                

 Khâu chế biến, sơ chế là tác nhân chính góp phần thành công cho các DN thuộc chuỗi, vì thế, DN không chỉ chủ động tìm giải pháp khắc phục những hạn chế mà Chính phủ cũng cần có giải pháp nới lỏng điều kiện, mở rộng đối tượng được hưởng những ưu tiên hỗ trợ KHCN, ứng dụng sản phẩm công nghệ mới của các chương trình quốc gia.

 DVTM chính là cầu nối giữa các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm, góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế. Vì thế, DVTM cũng không thể xem nhẹ, cần được quan tâm đúng mức.

 14.               Những hạn chế cần khắc phục trong khâu bảo quản, chế biến trong chuỗi giá trị

           Việt Nam đã là nước xuất khẩu nguyên liệu hàng đầu thế giới, như: cà phê, gạo, hạt tiêu… tuy nhiên, chúng ta lại rất thiếu các sản phẩm thành phẩm. Có rất nhiều thứ chúng ta nhập khẩu, cũng có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam tổ chức sản xuất và bán cho người Việt những sản phẩm mà nguyên liệu xuất xứ từ Việt Nam. 

 Điển hình như ngành cà phê, cả nước hiện có trên 641.700ha, sản lượng gần 1,4 triệu tấn cà phê nhân/năm. Hàng năm, 90% sản lượng cà phê của Việt Nam được xuất khẩu, nhưng chủ yếu vẫn là cà phê nhân, với đa phần là chế biến thô, chất lượng không đồng đều, tỷ lệ hạt vỡ cao nên giá bán thấp hơn sản phẩm cùng loại của các nước khác. Theo chuyên gia Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, khi bán 1kg cà phê với giá thành như hiện nay, các nông hộ, DN thu được gần 2 USD, tương đương với giá trung bình của 1 ly cà phê (đã được pha chế), giá trị giá tăng thấp (trong khi đó, 1kg cà phê thì pha chế được 50 ly cà phê).

 Chính phủ cần ưu tiên đầu tư, tạo cơ chế cho vay, bảo lãnh tín dụng mở rộng sản xuất, cho thuê ưu đãi mặt bằng kinh doanh, v.v. để tạo đà phát triển các DN NLTS sản xuất chế biến sâu mang lại giá trị gia tăng cao hơn gấp nhiều lần so với xuất khẩu nguyên liệu thô.

 15.     Khắc phục những yếu tố hạn chế bên ngoài tác động đến khâu phân phối

           - Bên cạnh những hạn chế cần khắc phục trong khâu bảo quản và chế biến, DN cần hạn chế một số yếu tố khác như: (i) Năng lực thu mua sản phẩm của các nhà phân phối (như tài chính, phương tiện, tiếp cận bên thu mua/ phân phối, giải quyết rủi ro và chịu các tổn thất do tồn kho, hư hỏng trong khâu phân phối, thông tin sản phẩm và thị trường, v.v.); (ii) Yếu tố luật pháp, tình hình kinh tế xã hội; (iii) Đặc điểm địa lý; (iv) Chủng loại sản phẩm, v.v. Cụ thể:

           - Mặt khác, những tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, dư lượng chất kháng sinh, v.v. khiến cho những nhà phân phối phải tìm hiểu rất kỹ những quy định về hàng hóa xuất nhập khẩu, thuế nhập khẩu, lệ phí có thể vừa tạo cơ hội cũng có thể vừa là phanh hãm cho dịch vụ phân phối. Ngoài ra, văn bản qui phạm pháp luật và tình hình kinh tế xã hội cũng luôn là nhân tố nhạy cảm tác động đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và nền kinh tế nói chung, trong đó có hệ thống phân phối.

           - Đặc điểm địa lý luôn được các DN quan tâm như môi trường khí hậu, sinh thái và địa hình, là mối hiểm hoạ rình rập cho quá trình phân phối. Địa hình Việt Nam chủ yếu là đồng bằng và trung du nên vận chuyển bằng đường bộ là chiếm đa số. Những bất cập về giao thông, địa hình đi lại khó khăn khiến cho quá trình vận chuyển gặp nhiều bất trắc, đã làm cho quá trình phân phối không được thông suốt và hiệu quả.

 16.               Biện pháp thúc đẩy sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tăng cường tính ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi trong hợp đồng liên kết nhà nông, nhà DN, nhà khoa học và tham gia vào chuỗi giá trị NLTS, DNTM toàn cầu

 - Trong những ưu tiên nhằm làm gia tăng sản xuất hàng hóa qui mô lớn chất lượng cao… DN cần trú trọng tăng cường tính ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi trong hợp đồng liên kết giữa các bên thông qua ưu tiên đầu tư sâu cho công nghệ sau thu hoạch, phát triển các dịch vụ hỗ trợ ngành hàng, và thúc đẩy tiếp cận và mở rộng hệ thống phân phối trong và ngoài nước, tạo kết nối tốt giữa các DN cung ứng và phân phối.

 - Một trong những khó khăn lớn nhất để đẩy mạnh việc sản xuất hàng hóa NLTS quy mô lớn  chính là việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau dồn điền, đổi thửa theo mô hình qui hoạch cánh đồng mẫu lớn, chăn nuôi tập chung. Để từng bước chuyển đổi sản xuất hàng hóa NLTS theo hướng hàng hóa bền vững, công tác nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất cần được đầu tư đồng bộ. Tuy nhiên, hiện giá trị sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đồng bộ đối với các loại cây trồng, vật nuôi chủ lực có lợi thế còn thấp, chủ yếu là ứng dụng công nghệ cao từng phần, quy mô nhỏ, phân tán, thiếu đồng bộ.

 - Ngoài ra, sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm NLTS ứng dụng công nghệ cao cần có nguồn vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, kết quả sản xuất kinh doanh cũng chịu tác động bởi điều kiện khí hậu, thời tiết, dẫn tới hiệu quả thấp. Bên cạnh đó, công tác quảng bá sản phẩm ra thị trường, tăng cường sự kết nối giữa các nhà khoa học với các Hiệp hội DN, các DN, các nhà cung cấp nguyên liệu, các nhà sản xuất chế biến sản phẩm nhằm tạo sự đồng thuận có hệ thống, chia sẻ lợi ích và rủi ro, nâng cao năng xuất chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu các loại sản phẩm để bảo đảm đầu ra ổn định cũng cần được quan tâm hơn nữa.         

 17.     Cần có chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ DN NLTS Khởi nghiệp sáng tạo (KNST) [1]

          - Kết quả khảo sát gợi ý rằng các chương trình hỗ trợ KNST nếu được triển khai thì nên triển khai một cách có lựa chọn, đầu tư hiệu quả. Mặt khác, các cơ sở ươm tạo, thúc đẩy KNST; các DN KNST và các nhà đầu tư cho KNST không phải luôn luôn là đối tượng phù hợp cho Chương trình hỗ trợ KNST.

 Hoạt động hỗ trợ triển khai theo thứ tự giảm dần là: (i) được miễn thuế môn bài trong vòng 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu; (ii) DN KNST không bị thanh tra, kiểm tra trong vòng 01 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu nếu không vi phạm pháp luật; (iii) DN được đào tạo miễn phí khởi sự kinh doanh trong vòng 12 tháng kể từ ngày có phương án sản xuất kinh doanh hoặc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu.

 Ngoài ra, (iv) DN được miễn thuế TNDN đối với doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài; (v) DN được hỗ trợ kinh phí quầy trưng bày sản phẩm, dịch vụ, v.v.    

 18.     Cảm nhận của DN thuộc chuỗi NLTS về việc Chính phủ hỗ trợ DN chuẩn đoán và tư vấn nâng cao năng lực sản xuất

- Kết quả khảo sát cho thấy việc triển khai hỗ trợ chuẩn đoán và nâng cao năng lực sản xuất cho DN là cần thiết.

 - Kết quả gợi ý nhà nước cần xem xét áp dụng các tiêu chuẩn đối với DN NLTS tham gia chương trình: a) Có phương án hoặc đang thực hiện phương án mở rộng hoạt động SXKD, mở rộng thị trường, gia tăng giá trị cho các sản phẩm; và b) Cam kết tuân thủ các quy trình quản lý chất lượng, quản trị sản xuất sau khi được hỗ trợ để lựa chọn đối tượng cho chương trình trợ chuẩn đoán và tư vấn nâng cao năng lực cho các DN sản xuất.

  Ngoài ra, (i) DN được chuyên gia tư vấn chuẩn đoán thông qua việc xem xét, đánh giá, nhận diện các hạn chế nội tại của DN và đưa ra các tư vấn, khuyến nghị để giải quyết; (ii) Phạm vi chuẩn đoán, tư vấn: Quản trị sản xuất; quản trị tài chính; quản trị nhân lực; năng lực công nghệ; kết nối DN, tiếp cận thông tin; mở rộng thị trường và các lĩnh vực khác thuộc về năng lực nội tại của DN.

 19.     Kiến nghị chính phủ ưu tiên hỗ trợ DN chuỗi NLTS, và DVTM phát triển nâng cao năng lực nội tại

           Như vậy, để đảm bảo phát triển nâng cao năng lực DN tham gia chuỗi thì rất cần nhà nước ưu tiên hỗ trợ theo hướng ưu tiên giảm dần (i) tiếp cận nguồn vốn nhằm mở rộng quy mô, (ii) hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực thông qua một số chương trình tập huấn quản trị kinh doanh theo chuỗi giá trị nội tại DN, và hệ thống chuỗi khép kín từ khâu đầu vào (nguyên liệu, chế biến…) đến đầu ra sản phẩm (hệ thống phân phối, thị trường tiêu thụ sản phẩm); và (iii) hỗ trợ phát triển hệ thống quản trị DN chuỗi dựa trên nền tảng công nghệ thông tin.

 20.     Kiến nghị Chính phủ đẩy mạnh hỗ trợ DNNVV thuộc chuỗi tham gia, duy trì và phát triển liên kết chuỗi giá trị thị trường

           Khẳng định vai trò của Chính phủ và chính quyền các địa phương là rất quan trọng, cần tiếp tục ưu tiên giải pháp trước mắt là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giúp DN hưởng ưu đãi, giúp DN giảm chi phí và tạo giá trị gia tăng cao, hình thành một số chuỗi giá trị hoàn chỉnh thông qua việc nâng cao năng lực quản lý cho các DN thông qua các khóa đào tạo, tập huấn cho cán bộ tư vấn chuỗi NLTS, DVTM về kỹ năng cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh, và tư vấn lập kế hoạch kinh doanh, v.v.

 Cần thiết phải xây dựng một số chuỗi giá trị điển hình NLTS và DVTM thông qua liên kết và phát triển DN trong các khu, cụm, vườn ươm trong chuỗi giá trị sản phẩm từ sản xuất đến phân phối và tiêu dùng; Hỗ trợ tiếp cận thị trường cho các DN trong chuỗi giá trị thông qua các phương tiện truyền thông, tham gia hội chợ thương mại trong và ngoài nước.

Ngoài các Sở KHĐT, Sở Công thương thì các hiệp hội ngành hàng, các cơ quan hỗ trợ DN ở mỗi địa phương (Trung tâm XTTM, Trung tâm hỗ trợ DNNVV khu vực Bắc- Trung- Nam, Trung tâm khuyến công, Trung tâm khuyến nông-lâm-ngư, v.v.) là đầu mối rất quan trọng, cần được củng cố thường xuyên. Do vậy, với vai trò là tổ chức đại diện nhà nước ở mỗi địa phương thực hiện hỗ trợ DN dưới nhiều hình thức khác nhau, họ sẽ tập hợp những kiến nghị của DN, các tổ chức, và hiệp hội ngành hàng lên Chính phủ nhằm định hướng, ổn định tình hình kinh tế đất nước.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article