Chính phủ cần ưu tiên hỗ trợ các DN tham gia chuỗi nông sản, thủy sản do gặp nhiều khó khăn nhất. Những yếu tố chính các doanh nghiệp cần hỗ trợ là: sự liên kết chặt chẽ từ khâu hoàn thiện sản phẩm đến thị trường tiêu thụ sản phẩm; tư vấn cho DN về chính sách định giá sản phẩm phù hợp với tình hình biến động thị trường thủy sản; Hỗ trợ DN về giống, phòng dịch bệnh, khắc phục sự cố môi trường, thiên tai…); Hỗ trợ DN thuê kho bãi, nơi bảo quản sản phẩm; Phối hợp với DN tổ chức tốt chiến dịch tuyên truyền quản bá sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương, trong nước và quốc tế.

4.       Tình hình khó khăn trong cạnh tranh giữa các DN tham gia chuỗi giá trị

 a) Kết quả khảo sát:

 Trong bảy yếu tố nghiên cứu thì số DN tham gia chuỗi nông sản gặp khó khăn chiếm tỷ lệ cao hơn cả (Hình 4a), tiếp đến là lâm sản, và thủy sản. Đáng chú ý là:

 (i) Trình độ nhân lực còn hạn chế trong thực hiện và quản lý (nông nghiệp 14,2%- lâm nghiệp 18,2%- thủy sản 23,0%- DVTM 10,9%);

 (ii) Vấn đề về giá cả sản phẩm (30,0%-25,3%-19,9%-24,8%);

 (iii) Vấn đề về tổ chức và năng lực quản lý (31,3%-25,3%-20,4%-23,1%);

 (iv) Tính cạnh tranh của sản phẩm chưa cao (28,1%-26,1%-20,6%-25,2%).

 b) Kết luận và kiến nghị:

 Theo thống kê với trên 600.000 DN thì có hơn 90% là các DNNVV,  nhưng phần lớn trong số này còn đang mơ hồ về hội nhập quốc tế. Khi tham gia vào chuỗi giá trị NLTS nói riêng, toàn cầu nói chung thì khó khăn lớn nhất vẫn là vốn, trình độ nguồn nhân lực và công nghệ. Hiện nay chỉ có 30% các DNNVV tiếp cận được nguồn vốn qua kênh ngân hàng. Nguyên nhân chính được xác định là hầu hết các doanh nghiệp đều thiếu kinh nghiệm, không đủ tài sản đảm bảo, báo cáo tài chính không minh bạch, đầy đủ.

 Trong bối cảnh hội nhập, các DN NLTS cần phải xác định được thế mạnh để lựa chọn chuỗi cung ứng sao cho phù hợp với xu huớng. đồng thời, phải nắm bắt những gì thị trường trong nước và quốc tế mang lại. Từ đó, đặt ra những kế hoạch để phát triển của riêng mình.  

 Việc cần làm thời điểm này là phải tạo chuỗi liên kết ngành NLTS để phát triển, cải thiện các yếu tố đầu vào sản xuất đối với các DN. Cùng với đó, các bộ, ngành, hiệp hội nghề cũng cần đẩy mạnh việc triển khai các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

 Kết quả cho thấy chưa có sự khác biệt lớn ba nhóm ngành NLTS. Nhà nước nên tập trung hỗ trợ ưu tiên theo thứ tự giảm dần là (i) DN tham gia chuỗi thuộc khu vực nông nghiệp, tiếp theo là (ii) DN thuộc chuỗi lâm nghiệp và dịch vụ; (iii) cuối cùng là các DN thuộc chuỗi thủy sản (do loại hình DN thủy sản có cấu trúc liên kết chuỗi chặt, đa phần đầu tư chiều sâu công nghệ, tổ chức sản xuất hợp lý hơn so với các ngành khác). 

 5.              Tình hình khó khăn của DN khi tham gia và duy trì hoạt động chuỗi giá trị

 a) Kết quả khảo sát:

 Trong 7 yếu tố nghiên cứu (Hình 4b) thì khu vực DN tham gia chuỗi nông sản gặp nhiều khó khăn nhất, chiếm tỷ lệ cao hơn cả, DN lâm nghiệp và DVTM trả lời khá tương đồng ở các yếu tố.

 

Đối với DN nông nghiệp: Những yếu tố chính cần khắc phục (xét theo thứ tự giảm dần) là: (i) Hệ thống phân phối chưa có sự kết nối chặt chẽ từ khâu hoàn thiện sản phẩm đến thị trường tiêu thụ sản phẩm; (ii) Chính sách định giá sản phẩm chưa linh hoạt với tình hình biến động thị trường; (iii) DN gặp vấn đề rủi ro (giống, thời vụ, dịch bệnh, sự cố môi trường, thiên tai…).

 Đối với các DN thủy sản: (i) DN thường đối mặt những vấn đề về rủi ro về giống, thời vụ, dịch bệnh, sự cố môi trường, thiên tai…; (ii) Vấn đề về bảo quản sản phẩm, kho bãi tập kết lưu giữ nguyên liệu, sản phẩm; (iii) Vấn đề tổ chức thực hiện chiến lược quảng bá sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chung ở trong và ngoài nước.

 DN lâm nghiệp và DVTM khá tương đồng ở các yếu tố, không có sự khác biệt đáng kể.

 b)   Kết luận và kiến nghị:

 Chính phủ cần ưu tiên hỗ trợ các DN tham gia chuỗi nông sản, thủy sản do gặp nhiều khó khăn nhất: Những yếu tố chính các DN cần hỗ trợ là: Tạo sự liên kết chặt chẽ từ khâu hoàn thiện sản phẩm đến thị trường tiêu thụ sản phẩm; Tư vấn cho DN về chính sách định giá sản phẩm phù hợp với tình hình biến động thị trường thủy sản; Hỗ trợ DN về giống, phòng dịch bệnh, khắc phục sự cố môi trường, thiên tai…); Hỗ trợ DN thuê kho bãi, nơi bảo quản sản phẩm; Phối hợp với DN tổ chức tốt chiến dịch tuyên truyền quản bá sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương, trong nước và quốc tế.

 

Kết quả này cho thấy các DN tham gia chuỗi giá trị có cấu trúc càng hoàn thiện thì càng có nhiều khả năng vay vốn từ NHTM. Theo ngành nghề kinh doanh, kết quả cho thấy các DN trong các lĩnh vực kinh tế truyền thống có sử dụng công nghệ mức trung bình như NLTS có tỷ trọng trung bình DN vay vốn NH (33,7%) cao hơn các DN hoạt động trong các lĩnh vực DVTM (28,1%). Theo quy mô, tỷ trọng các DN vay vốn (61,1% và 63,2%) cao hơn so với các DN có quy mô siêu nhỏ (30,4%).

 DN vay vốn NH cho rằng vẫn có khá nhiều trở ngại với các mức độ khác nhau theo thang điểm từ 1 đến 4, trong đó 1= không trở ngại;… 4= rất trở ngại (Hình 5b).

 Trong số 11 yếu tố được hỏi, tư vấn xem bốn yếu tố trở ngại nhất trong việc vay vốn NH là (i) thời hạn vay vốn quá ngắn so với nhu cầu của DN; (ii) Không đủ tài sản thế chấp; (iii) Qui trình xét duyệt của NH cho DN vay mất nhiều thời gian; và (iv) NH cho DN vay ít hơn so với nhu cầu.

Điểm số “trở ngại” biến động từ 0,64 đến 2,12. Mức độ trở ngại của các yếu tố này được sắp xếp theo thứ tự giảm dần như sau: (i) Lãi xuất vay quá cao; (ii) Qui định của NH quá nghiêm ngặt; (iii) NH yêu cầu DN cung cấp các báo cáo tài chính được kiểm toán; (iv) NH yêu cầu DN cung cấp kế hoạch đề án kinh doanh; v.v. là những trở ngại đáng kể.

  Về trung bình giá trị, Hình 6 cho thấy lý do phổ biến nhất là 35,4% DN nông nghiệp chưa vay vốn của NHTM do “bị từ chối”. Tuy nhiên, có  36,7% DN có nhu cầu vay vốn nhưng “chưa biết cách tiếp cận” được nguồn vốn NH và 30,9% DN cho rằng “chưa cần thiết”.

           (ii) DN không vay vốn: Có 27,3% các DN lâm nghiệp bị từ chối; 28,8% DN chưa biết cách tiếp cận NH; và 30,9% DN cho rằng chưa cần thiết.

           27,7% các DN thủy sản bị từ chối; 14,8% DN chưa biết cách tiếp cận NH; và 18,4% DN cho rằng chưa cần thiết.

           Có 14,5% các DN DVTM bị từ chối; 11,5% DN chưa biết cách tiếp cận NH; và 21,8% DN cho rằng chưa cần thiết.

 

Lý do các DN bị từ NH chối các khoản vay tín dụng (Hình 7):

          - Có 64,4 % DN Nông nghiệp; 64,1% DN Thủy sản, 63,0% DN Lâm nghiệp; và 59,0% DN DVTM trả lời lý do là “không đủ tài sản thế chấp” (Hình 7).

          - Trong khi 31,9% DN DVTM, 26,2% DN nông nghiệp; 26,0% DN lâm nghiệp; và 24,1% DN thủy sản trả lời do “không đủ khả năng trả nợ vay đúng hạn”.

           Những lý do khác bị NH từ chối như: “Kế hoạch đề án kinh doanh không rõ ràng”, “không đủ các thông tin tài chính”, và “không rõ lý do” không có sự khác biệt lớn (Hình 7).

 
 

Để tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn vay thương mại, các biện pháp cần áp dụng theo mức cần thiết giảm dần là (i) Qui trình cho vay phù hợp với DN; (ii) Thủ tục cho vay đơn giản; (iii) Điều kiện cho vay chấp nhận được; (iv) Chi phí không chính thức thấp; (v) Thời gian giải ngân nhanh; và (vi) Lãi suất ưu đãi hơn so với lãi suất thông thường. Đồng thời, có 34,6% đến 75,4% các DN cho là “rất cần thiết” Hình 8(a-f).

 b) Kết luận và kiến nghị về các biện pháp tăng cường tiếp cận nguồn vốn từ các NHTM cho DN:

 - Những nỗ lực của nhà nước trong thời gian qua đã giúp nhiều DN tiếp cận được nguồn vốn tín dụng từ các NHTM. Tuy nhiên, việc tiếp cận của các DN siêu nhỏ và nhỏ trong lĩnh vực NLTS, và DVTM còn gặp nhiều khó khăn do thiếu tài sản thế chấp, qui mô kinh doanh nhỏ, cơ chế bảo lãnh tín dụng của các tổ chức nhà nước chưa thực sự linh hoạt, đôi lúc còn chồng chéo với các NHTM, kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN thiếu sức thuyết phục, kế hoạch trả nợ vốn vay không rõ ràng, v.v.

 - Nhà nước và các NH nên hỗ trợ chính sách thông qua việc gỡ bỏ hợp lý rào cản, đặc biệt là (i) tăng thời hạn vay vốn cho các DN có kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh dài hạn; (ii) tăng hạn mức cho vay phù hợp với với nhu cầu của DN; (iii) Linh hoạt mức lãi suất cho DN vay vốn; (iv) giảm thời gian thẩm định hồ sơ vay vốn. Ngoài ra, các cơ quan, tổ chức trợ giúp DN cần phối hợp với các NHTM, hiệp hội DN để hỗ trợ DN làm quen với các quy định, thủ tục huy động vốn thông qua nhiều kênh huy động vốn khác nhau.

 - Cần thiết phải triển khai các hoạt động tư vấn hỗ trợ vay vốn, đồng thời phối hợp với các ngân hàng tín dụng điều chỉnh lại điều kiện cho DN vay tín dụng phù hợp với các DN, ví dụ như nhà nước cần có chính sách hỗ trợ/bảo lãnh vốn vay đối với các DN có tiềm năng nhưng không có/ chưa đủ tài sản thế chấp hoặc không chứng minh được quyền sở hữu tài sản. Nhà nước thông qua các cơ quan quản lý thực hiện tư vấn/hỗ trợ DN hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính và lập kế hoạch kinh doanh. Mặt khác, cần phối hợp đồng bộ giữa cơ chế quản lý và tín dụng nhằm hợp lý hóa thủ tục cho vay, đẩy nhanh tốc độ giải ngân, xây dựng quy trình cho vay phù hợp với DN, áp dụng điều kiện cho vay phù hợp, cắt giảm các chi phí giao dịch không chính thức.

 7.       Chính sách miễn, giảm, giãn thuế của CP đối với DN NLTS, và DVTM tham gia chuỗi giá trị trong những năm qua

 a) Kết quả khảo sát:

 Mặc dù nhà nước đã áp dụng các chính sách miễn, giảm, dãn thuế cho các DN nhưng theo kết quả khảo sát thì chỉ có 25,6% DN nông nghiệp, 25,7% DN lâm nghiệp, 29,7% DN thủy sản, và 27,5% DN DVTM được hưởng các chính sách này.

 Phần lớn các DN tham gia chuỗi nghiên cứu không được hưởng hoặc không thực sự quan tâm chính sách thuế của CP, cụ thể như: DN tự cho rằng họ không thuộc đối tượng hưởng thụ (29,3%), hồ sơ thủ thục quá rườm rà và mất thời gian (20,2%). Phải mất “chi phí bôi trơn” (32,3%), ngoài ra có gần 1/4 DN không được hưởng ưu đãi thuế cho rằng các ưu đãi thuế là không hấp dẫn (13,4%); và một tỷ lệ nhỏ DN (4,8%) không quan tâm chính sách hỗ trợ thuế của CP (Hình 9).

 b) Kết luận và kiến nghị về biện phát tăng cường hỗ trợ thuế của CP cho DN tham gia chuỗi giá trị NLTS, và DVTM:

Mặc dù nhà nước đã áp dụng các chính sách miễn, giảm, dãn thuế cho các DN, cụ thể như: Về thực hiện nguyên tắc đối xử công bằng giữa hàng NLTS nhập khẩu và sản xuất trong nước, nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa DN và nước ngoài. Luật Thuế GTGT đã quy định cụ thể từng đối tượng, từng khâu sản xuất trong việc xác định đối tượng chịu thuế GTGT. Theo đó, các mặt hàng NLTS thô hoặc sơ chế của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu sẽ không thuộc đối tượng chịu thuế. Tại khâu kinh doanh tiếp theo, các DN có mua sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến hoặc mới sơ chế thông thường sẽ không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.... nhưng thực tế khảo sát cho thấy, chỉ có khoảng 1/4 DN thuộc chuỗi được hưởng sự hỗ trợ này của nhà nước. Khoảng 3/4 DN còn lại vẫn chưa thể tiếp cận các chính sách này, và cho rằng hồ sơ thủ thục quá rườm rà, mất thời gian, ưu đãi thuế là không hấp dẫn nên không quan tâm đến chính sách hỗ trợ thuế của CP.

 8.       Hỗ trợ của nhà nước để nâng cao năng lực công nghệ cho DN

 Nhằm khuyến khích các DN đầu tư vào hoạt động KHCN nhằm đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, các Bộ ngành đã và đang triển khai thực hiện một số chương trình kèm giải pháp hỗ trợ DN KHCN, và sử dụng sản phẩm KHCN gồm:

 -     Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020

 -     Chương trình quốc gia nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa của DN Việt Nam đến năm 2020

 -     Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020

 -     Nghiên cứu khoa học phát triển văn hóa, con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

 -     Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển

 -     Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sau thu hoạch

 -     Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ sản xuất các sản phẩm chủ lực

 -     Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

 -     V.v.

 -  Ngày 18/ 9/1999, Chính phủ đã ra Nghị định số 119/1999/NĐ-CP về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các DN đầu tư vào hoạt động KHCN, trong đó có chính sách hỗ trợ DN tối đa không quá 30% tổng kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu tạo ra công nghệ mới thuộc những ngành nghề nhà nước ưu tiên khuyến khích do DN thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan khoa học thực hiện (Quỹ NAFOSTED).

 a) Kết quả khảo sát:

 Có 1/3 số DN tiếp cận và 2/3 DN chưa tiếp cận được sự hỗ trợ của nhà nước để nâng cao năng lực công nghệ (Hình 10).

 Các DN tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp và tiếp cận hỗ trợ của nhà nước để nâng cao năng lực công nghệ đã cho rằng những hỗ trợ này là rất phù hợp (35,4%), phù hợp (47,9%), không phù hợp (0,6%), và không ý kiến (16,1%).

 Tương tự như vậy, các DN lâm nghiệp có ý kiến đánh giá theo thứ tự này lần lượt là 32,2%- 48,8%- 0,9%- 18,1%; các DN thủy sản đánh giá là  28,9%- 54,6%- 0,5%- 16,0%; và các DN DVTM là 14,6%- 67,8%- 0,2%- 17,4%. 

Đáng chú ý, các lý do DN tham gia chuỗi chưa tiếp cận được những hỗ trợ của nhà nước theo thứ tự phổ biến tăng dần là:

           - Không có thông tin về các hỗ trợ: DN nông nghiệp (29,9%); DN lâm nghiệp (34,7%) chiếm tỷ trọng cao nhất.

           - Hồ sơ thủ tục quá rườm rà, mất thời gian: DN nông nghiệp (25,4%); DN lâm nghiệp (29,8%); DN thủy sản (29,8%).

           Các DN DVTM không nhận được hỗ trợ công nghệ cho rằng các nội dung hỗ trợ không phù hợp (27,6%); không thuộc đối tượng nhận hỗ trợ (25,9%) chiếm tỷ trọng khá cao (Hình 11).

 a)     Kết luận về chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ đối với DN:

 Hỗ trợ DNNVV thuộc lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng KHCN, sản phẩm mới váo sản xuất được nhà nước ưu tiên khuyến khích DN thực hiện, đặc biệt đổi mới sáng tạo nhằm gia tăng sản phẩm chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường. 


 

 Kết quả khảo sát chỉ ra hầu hết các DN không mặn mà với những hỗ trợ này vì DN thường không muốn đầu tư nhiều thời gian vào nghiên cứu KHCN, mức hỗ trợ không hấp dẫn, phương thức hỗ trợ và hồ sơ đăng ký rườm rà.

 - Chính phủ cần có những điều chỉnh để nâng cao hiệu quả các hỗ trợ của nhà nước nhằm nâng cao trình độ công nghệ cho các DN có chỉ số “phù hợp” với nhu cầu của các DN.

 - Kết quả khảo sát cũng cho thấy để tăng cường tính hữu ích của họat động này cần thực hiện các hoạt động sau đây: (i) Hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới công nghệ; (ii) Hỗ trợ tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện và làm chủ công nghệ; (iii) Hỗ trợ xây dựng và đạt các tiêu chuẩn tiên tiến cho sản phẩm, quản lý quy trình sản xuất, môi trường; (iv) Hỗ trợ phân tích, đánh giá, định giá, kết nối cung cầu, phát triển thị trường công nghệ; (v) Hỗ trợ xác lập, khai thác, quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của DN; (vi) Hỗ trợ DN liên kết với các tổ chức KHCN, và các DN khác; (vii) DN được ưu tiên lựa chọn và hỗ trợ kinh phí để chuyển giao, hoàn thiện việc ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm thành lập DN KHCN.

9.       Hỗ trợ mặt bằng kinh doanh cho DN

 a) Kết quả khảo sát:

 Hình 12 cho thấy 33,4% số DN sử dụng tài sản cá nhân làm mặt bằng kinh doanh; 24,4% DN được nhà nước giao mặt bằng để sử dụng, 28,6% DN mua đất được chuyển nhượng làm mặt bằng kinh doanh; và 13,6% DN thuê mặt bằng của các tổ chức cá nhân khác.

Kết quả tính toán cho biết một tỷ trọng nhỏ (16,2%) các DN có mặt bằng SXKD nằm trong các khu/cụm công nghiệp, trong khi 83,8% DN không đặt mặt bằng trong khu/ cụm công nghiệp.

 Lý do phổ biến nhất (Hình 13) khiến mặt bằng SXKD của DN thường không đặt trong các khu/cụm công nghiệp là (i) chưa có nhu cầu (chiếm 52,7%)[1]; (ii) thiếu thông tin cần thiết (12,5%); (iii) diện tích cho thuê lớn (12,3); (iv) giá thuê mặt bằng cao (10,5%); (v) thủ tục cho thuê rườm rà (7,2%); (vi) chi phí không chính thức cao (4,8%).

b) Kết luận về chính sách hỗ trợ mặt bằng cho DN:

 Chính sách hỗ trợ mặt bằng của nhà nước đã có những tác động tích cực, mặc dù vậy phạm vi tác động của chính sách này còn hạn chế do các nguyên nhân khác nhau, hầu hết doanh nghiệp nhỏ đều phải “tự bơi”.

 Kết quả khảo sát phần nào phản ánh việc sử dụng tài sản cá nhân hoặc của gia đình làm mặt bằng kinh doanh là một lợi thế lớn của DN. Một số DN đã phải tự đầu tư tiền để mua mặt bằng kinh doanh, điều này gây ra tình trạng lãng phí vốn của DN. Tuy nhiên, các DN vẫn chưa có nhu cầu thực sự hoặc khó tiếp cận mặt bằng SXKD trong các khu / cụm công nghiệp bởi những khó khăn kể trên.

 Những khó khăn về vốn của DN có thể được tháo gỡ nếu nhà nước có mặt bằng cho thuê hoặc khuyến khích tư nhân phát triển CSHT để cho DN thuê. Các khu / cụm công nghiệp có thể thu hút và hỗ trợ mặt bằng tốt hơn cho DN nếu có diện tích và giá thuê mặt bằng hợp lý, đơn giản hóa thủ tục cho thuê, cung cấp đầy đủ thông tin cho DN, có quy định rõ ràng về các loại phí, thuế, và có lộ trình cho thuê cụ thể.

 

10.     Hỗ trợ DN chuỗi NLTS, và DVTM tham gia các chương trình xúc tiến thương mại

 a) Kết quả khảo sát:

Trong tổng số 4010 DN trả lời khảo sát có 80,4% DN đã tham gia XTTM trong nước, chỉ có 7,5% tham gia XTTM ngoài nước. Và 19,6% DN chưa tham gia các chương trình XTTM trong nước và 92,5% DN không tham gia XTTM ngoài nước (Hình 14).

 Lý do phổ biến nhất khiến 26,8% DN chuỗi NLTS và DVTM chưa quan tâm XTTM trong và ngoài nước vì DN xét thấy không hiệu quả về kinh tế; 13,9% DN không thuộc đối tượng tham gia; 27,3% DN không đủ kinh phí tham gia; 18,7% DN chưa có nhu cầu; và 13,4% DN không có thông tin về chương trình XTTM (Hình 15).

 b) Kết luận:

 Các hoạt động hỗ trợ kết nối và tham gia vào các chuỗi giá trị đã có những tác động tích cực đến cộng đồng DN nói chung, XTTM trong nước được đầy mạnh, DN nhiệt tình tham gia (80,4%). Tuy nhiên, hoạt động này cần được cải tiến để phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của DN NLTS: Kết quả ở trên cho thấy còn một bộ phận lớn (92,5%) các DN chưa chú trọng vào hoạt động xúc tiến thương mại ngoài nước.

Vì vậy, Chính phủ cần ưu tiên hỗ trợ XTTM giai đoạn 2016-2017 đối với các DN NLTS những nội dung sau đây:

 - Hỗ trợ thông tin thị trường, tổ chức nghiên cứu thị trường, xây dựng cơ sở dữ liệu các thị trường xuất khẩu trọng điểm theo ngành hàng truyền thống NLTS.

 - Hỗ trợ DN NLTS quảng bá hình ảnh ngành hàng, chỉ dẫn địa lý nổi tiếng của vùng, miền ra thị trường nước ngoài. Việc mời đại diện cơ quan truyền thông nước ngoài đến Việt Nam để viết bài, làm phóng sự, nhằm quảng bá cho xuất khẩu Việt Nam.

 - Hỗ trợ các chi phí thuê chuyên gia trong và ngoài nước để tư vấn phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển xuất khẩu, thâm nhập thị trường nước ngoài. Hỗ trợ hoạt động tổ chức cho chuyên gia trong và ngoài nước gặp gỡ, phổ biến kiến thức và tư vấn cho DN.

 - Hỗ trợ đào tạo, tập huấn ngắn hạn trong và ngoài nước nhằm nâng cao nghiệp vụ xúc tiến thương mại; Tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm thương mại; Tổ chức đoàn giao dịch thương mại tại nước ngoài.

- Hỗ trợ việc tổ chức đoàn DN nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng; Tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam.

 - Hỗ trợ tổ chức các hội chợ, triển lãm hàng tiêu dùng tổng hợp hoặc vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, giới thiệu các sản phẩm của DN Việt Nam đến người tiêu dùng theo quy mô thích hợp cho từng địa phương.

 - Hỗ trợ điều tra, khảo sát, nghiên cứu thị trường trong nước; xây dựng cơ sở dữ liệu các mặt hàng quan trọng, thiết yếu; nghiên cứu phát triển hệ thống phân phối, cơ sở hạ tầng thương mại. Các ấn phẩm để phổ biến kết quả điều tra, khảo sát, phổ biến pháp luật, tập quán, thói quen mua sắm.

 - Hỗ trợ hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về hàng hoá NLTS và dịch vụ Việt Nam đến người tiêu dùng trong nước qua các hoạt động truyền thông trên báo chí, phương tiện thông tin đại chúng.

  15.     Hỗ trợ của nhà nước về dịch vụ công và hạ tầng đối với các DN tham gia chuỗi

           a) Kết quả khảo sát:

           Về hỗ trợ dịch vụ công:

           Về hỗ trợ kết nối từ các cơ quan trung ương, địa phương đối với hoạt động của DN nhằm cải thiện khả năng tham gia chuỗi giá trị NLTS và DVTM của các DN: Có 36,9%-64,4% các trường hợp tùy từng loại dịch vụ hiện nay mà DN nhận được chủ yếu cung cấp bởi các cơ quan địa phương; Dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan trung ương khoảng từ 33,5%-62,1% tùy theo loại dịch vụ; cung cấp bởi các cơ quan khác là không đáng kể (0,6%-2,8%) tùy từng loại dịch vụ.

 Kết quả cũng cho thấy các dịch vụ do các cơ quan trung ương cung cấp được nhiều DN tiếp cận nhất: (i) dịch vụ tư vấn pháp luật (62,2%); tiếp đến là dịch vụ tìm kiếm đối tác (60,0%);

 (ii) dịch vụ do các cơ quan địa phương cung cấp: Dịch vụ giới thiệu việc làm (64,4%); tiếp đến là hỗ trợ đào tạo nghề (56,8%) (Hình 16). 

Về chính sách hỗ trợ DN thuộc chuỗi gíá trị NLTS, và DVTM về cơ sở hạ tầng (Hình 17)

           Về cơ sở hạ tầng nơi DN tham gia chuỗi giá trị đang được hưởng sự trợ giúp của nhà nước: Một tỷ lệ lớn các DN thuộc chuỗi cho rằng đường sắt (16,5%-54,2%) và sân bay (23,4%-36,0%) không phù hợp hoặc không thuận tiện với môi trường sản xuất kinh doanh và dịch vụ của các DN trong khi đường bộ là khá đồng đều về đáp ứng nhu cầu của DN nhưng ở mức khiêm tốn (tạm được 7,1%, tốt 10,8%, và rất tốt 5,6%). Các yếu tố hạ tầng khác chiếm tỷ trọng cao nhất trong dịch vụ hạ tầng là: điện thoại (tốt 13,0%), điện (rất tốt 13,3%), nước sạch (rất tốt 11,6%), internet (tốt 8,9%), cảng (rất tốt 6,6%), cầu (tạm được 9,6%), hệ thống sử lý chất thải (tạm được 8,9%), đường nối giữa cảng và đường sắt (tạm được 8,9%), đường nối giữa cảng và đường bộ (kém 18,7%), đường nối giữa đường sắt và đường bộ (12,4%).


 b)  Kết luận và kiến nghị:

           - Chính sách dịch vụ công nhằm hỗ trợ các DN tăng cường liên kết và tham gia vào các chuỗi giá trị: Việc xây dựng và duy trì hệ thống hỗ trợ các dịch vụ công cho DN chuỗi NLTS nên được coi là một ưu tiên hàng đầu trong chính sách công hỗ trợ DN nói chung.

           Kết quả khảo sát cho thấy mức độ bao phủ dịch vụ kết nối từ các cơ quan trung ương đến địa phương và đến đối tượng hưởng lợi là DN NLTS chưa thực sự tốt. Nên phân cấp, giao quyền hơn nữa cho các cơ quan quản lý/hỗ trợ ở địa phương trực tiếp triển khai thực hiện các đề án hỗ trợ DNNVV.

           - Chính sách hỗ trợ của nhà nước về cơ sở hạ tầng đối với DN tham gia chuỗi giá trị NLTS: Cần cải thiện năng lực vận tải của các DN thuộc chuỗi dựa trên sự hỗ trợ của nhà nước đối với DN về cơ chế lưu thông phân phối sử dụng đường sắt và lợi thế giao thông đường bộ. Ngoài ra, nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ các dịch vụ theo thứ tự ưu tiên giảm dần như: điện thoại-viễn thông, điện, nước sạch, cầu- cảng, hệ thống sử lý chất thải, đường nối cảng và đường bộ, đường nối đường sắt và đường bộ; đường kết nối giữa cảng và đường sắt.

 

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article