Kết quả cho thấy mức độ cung cấp vật tư cho các DN NLTS được trả lời theo thứ tự giảm dần như sau: Cá nhân/hộ gia đình (45,6%), DN tư nhân (43,8%), DN tự sản xuất (6,8%), DN nhà nước (2,8%); và nhập khẩu (1,1%)

12.     Tình hình tiêu thụ vật tư và sản phẩm của các DN tham gia chuỗi giá trị

 a) Kết quả khảo sát:

    Kết quả cho thấy mức độ cung cấp vật tư cho các DN NLTS được trả lời theo thứ tự giảm dần như sau: Cá nhân/hộ gia đình (45,6%), DN tư nhân (43,8%), DN tự sản xuất (6,8%), DN nhà nước (2,8%); và nhập khẩu (1,1%) (Hình 18).

 - Tiêu thụ sản phẩm là chiếc cầu nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu dùng, giúp người tiêu dùng có được giá trị sử dụng mong muốn, DN sản xuất đạt được mục đích của mình là lợi nhuận. Các DN NLTS thông qua tiêu thụ có thể nắm bắt được tình hình thị hiếu và tiềm năng thị trường tiêu dùng, từ đó DN có chiến lược, phương án kinh doanh mới, các biện pháp thu hút khách hàng chiếm lĩnh thị trường.

Khách hàng chính tiêu thụ sản phẩm của các DN xét theo thứ tự ưu tiên tăng dần gồm có: Cơ quan nhà nước (0,7%), DN nhà nước (6,5%), DN tư nhân (17,3%), xuất khẩu (28,6%); và cá nhân (31,2%) (Hình 19).

 Như vậy, nhân tố DN xuất khẩu, cá nhân, và DN tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong tiêu thụ sản phẩm của các DN tham gia chuỗi trong khi vai trò của các DN nhà nước (hoặc có cổ phần của nhà nước) và cơ quan nhà nước  là khá mờ nhạt.

 b) Kết luận về chính sách hỗ trợ tiêu thụ vật tư và sản phẩm đầu ra:

    Kết quả phân tích trên cho thấy vai trò chủ đạo trong cung cấp vật tư và tiêu thụ sản phẩm của các DN tham gia chuỗi giá trị là các DN tư nhân, cá nhân, và DN xuất khẩu. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực NLTS tập trung chủ yếu kinh doanh cung cấp dịch vụ vật tư đầu vào và làm trung gian phân phối tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Vì vậy, thúc đẩy DN tham gia chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, mang lại hiệu quả cao cho người sản xuất và người tiêu dùng cần được Chính phủ quan tâm hơn nữa.

  13.     Vai trò các tác nhân trong chuỗi cung ứng

  a) Kết quả khảo sát:

 - Về hiệu quả chuỗi cung ứng: Khảo sát 4010 DN, có 81,8% DN tin cho rằng (quan trọng) tham gia và chuỗi cung ứng sẽ đạt hiệu quả cao; trong khi 18,1% cho rằng “rất quan trọng”, chỉ có 0,1% cho là “không quan trọng” (Hình 20).

 Về ưu điểm khi DN tham gia chuỗi cung ứng vật tư, thiết bị, sản phẩm: Có khoảng 3865 ý kiến (89,7%) trên tổng số 4078 ý kiến cho rằng khi tham gia (i) Làm tăng lượng thông tin hỗ trợ giữa các khâu; (ii) Giảm chi phí giao dịch cũng như tăng liên kết thông tin giữa các bên; (iii) Cải thiện tỷ lệ đáp ứng sở thích và thị hiếu người tiêu dùng để thu được lợi nhuận đặc biệt (Hinh 21). 

 - Mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng xếp theo thứ tự ưu tiên giảm dần là: (i) Chế biến, sơ chế (45,2%);(ii) khâu nào cũng quan trọng (40,3%);(iii) sản xuất, nuôi trồng, cung cấp vật tư, giống (28,8%);(iv) tiêu dùng (24,4%); phân phối, vận tải (20%); và bán buôn, bán lẻ (15,3%).

 
 
Như vậy, khâu chế biến, sơ chế trong chuỗi giá trị các DN cho là quan trọng nhất, có tỷ trọng cao nhất trong các tác nhân thuộc chuỗi giá trị góp phần thành công cho các DN (Hình 22).
 
 

- Biện pháp tối ưu hoá năng lực của các chuỗi cung ứng: Khảo sát 4010 DN tham gia chuỗi giá trị NLTS, và DVTM thì có 3997 DN (99,7%) cho biết để tối ưu hóa năng lực các chuỗi cung ứng thì không nhất thiết phải sử dụng biện pháp tối ưu hóa cá biệt từng khâu mà hài hòa, liên kết tốt giữa các tác nhân trong chuỗi. Chỉ có 13 DN (tương đương 0,3%) cho rằng tối ưu hóa chi phí, lợi nhuận… từng khâu trong chuỗi cung ứng sẽ làm tăng năng lực chuỗi.

 DVTM nằm ở khâu trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối, một bên là tiêu dùng sản phẩm. Trong quá trình trao đổi hàng hóa, lưu thông sản phẩm từ lĩnh vực sản xuất đến người tiêu dùng, các DN DVTM thực hiện phân loại, chọn lọc, đóng gói, vận chuyển, dự trữ, bảo quản sản phẩm, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, sửa chữa, lắp ráp, bảo hành sản phẩm…Đây chính là chức năng nhằm hoàn thiện sản phẩm ở dạng tốt nhất để sản phẩm thích hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.

 b) Kết luận:

 DN tham gia chuỗi cung ứng sẽ đạt hiệu quả cao trong việc tiếp nhận thông tin giữa các khâu trong chuỗi, đồng thời giảm chi phí giao dịch giữa các đối tác tham gia chuỗi; lựa chọn giải pháp công nghệ tối ưu nhằm gia tăng năng suất và chất lượng sản phẩm; cải thiện tỷ lệ đáp ứng sở thích và thị hiếu người tiêu dùng để thu được lợi nhuận đặc biệt.

 DN DVTM là cầu nối giữa sản xuất, phân phối, và tiêu dùng sản phẩm. Các DN DVTM thực hiện giai đoạn cuối cùng là phân loại, chọn lọc, đóng gói, vận chuyển, dự trữ, bảo quản, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, sửa chữa, lắp ráp, bảo hành sản phẩm… trước khi phân phối đến tay người tiêu dùng.

14.  Những hạn chế cần khắc phục trong khâu bảo quản, chế biến trong chuỗi giá trị

 a) Kết quả khảo sát: Hạn chế lớn nhất là (i) Công nghệ lạc hậu, chưa có nhiều sản phẩm theo hướng chế biến tinh, chế biến sâu (16,5%), tiếp theo là (ii) Chưa tạo ra được sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có vị thế cao; (iii) Việc sử dụng các phế, phụ phẩm chưa được quan tâm đúng mức; công nghiệp hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm chậm phát triển. Một tỷ lệ trung bình trong khoảng 8,8% đến 10,5% là những yếu tố hạn chế cần khắc phục được xếp theo thứ tự giảm dần như sau: (iv) Khâu bảo quản sau thu hoạch nhỏ lẻ, giá trị gia tăng thấp, khó liên kết với người dân và chưa nhận được nhiều hỗ trợ từ chính quyền địa phương (10,5%); (v) Hạ tầng gồm đường giao thông, điện nước, kho bãi còn yếu (10,3%); (vi) Thông tin và định hướng thị trường còn nhiều bất cập (9,3%); (vii) Khó tìm được vùng có lợi thế về nguyên liệu nhằm giảm chi phí vận chuyển và bảo quản (9,1%); (iix) Thương mại và hạ tầng thương mại yếu kém, chưa đủ tầm để chủ động giao dịch trên thị trường khu vực và thế giới (8,9%); và Nguyên liệu đầu vào được thu mua từ các nông hộ nhỏ lẻ, tỷ lệ dinh dưỡng không đảm bảo, sản phẩm còn nhiều vấn đề về sử dụng thuộc bảo vệ thực vật/ kháng sinh trong nuôi trồng… (8,8%) (Hình 23).

 
 b) Kết luận:

    Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu nguyên liệu hàng đầu thế giới như: cà phê, gạo, hạt tiêu… tuy nhiên, chúng ta lại rất thiếu các thành phẩm có giá trị cao trên thị trường. Có rất nhiều thứ chúng ta nhập khẩu, cũng có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam tổ chức sản xuất và bán cho người Việt những sản phẩm mà nguyên liệu lại có xuất xứ từ Việt Nam. 

 Điển hình như ngành cà phê, cả nước hiện có trên 641.700ha, sản lượng gần 1,4 triệu tấn cà phê nhân/năm. Hàng năm, 90% sản lượng cà phê của Việt Nam được xuất khẩu, nhưng chủ yếu vẫn là cà phê nhân, với đa phần là chế biến thô, chất lượng không đồng đều, tỷ lệ hạt vỡ cao nên giá bán thấp hơn sản phẩm cùng loại của các nước khác.

 Về vấn đề này, tư vấn đã xin ý kiến chuyên gia Lương Văn Tự là Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam: Khi bán 1kg cà phê với giá thành như hiện nay, các nông hộ, DN thu được gần 2 USD, tương đương với giá trung bình của 1 ly cà phê (đã được pha chế) ở các nước nhập khẩu cà phê, trong khi đó, 1kg cà phê thì pha chế được 50 ly cà phê.

 Cũng theo chuyên gia Võ Thành Đô, Phó cục trưởng Cục Chế biến NLTS và nghề muối (Bộ NN&PTNT), công nghiệp chế biến cà phê lâu nay chủ yếu vẫn là chế biến cà phê nhân xuất khẩu, mang lại giá trị gia tăng thấp, còn chế biến sâu ra các sản phẩm cà phê bột, cà phê hòa tan chỉ mới chiếm tỷ lệ từ 4,1-6,0% trong tổng sản lượng cà phê. Ở Việt Nam đã có nhiều nhà máy chế biến cà phê, từ chế biến thô đến chế biến sâu nhưng chưa được khai thác hết công suất. Trong khi đó, các sản phẩm cà phê được chế biến sâu tuy có sản lượng thấp nhưng mang về giá trị gia tăng cao hơn gấp nhiều lần so với xuất khẩu cà phê nhân. Mỗi năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu rất nhiều cà phê rang xay của nước ngoài. Các nước đó mua cà phê của Việt Nam, sản xuất và đóng gói, nhập khẩu bán cho người tiêu dùng Việt Nam.

 15.     Những yếu tố hạn chế bên ngoài tác động đến khâu phân phối

 a) Kết quả khảo sát:

           Ngoài những hạn chế cần khắc phục trong khâu bảo quản và chế biến, tư vấn cũng phát hiện thêm một số yếu tố hạn chế khác (11,5% đến 29,5%) cản trở đến khâu phân phối các sản phẩm thuộc chuỗi xếp theo thứ tự giảm dần gồm:

           (i) Năng lực thu mua sản phẩm của các nhà phân phối còn nhiều hạn chế như tài chính, phương tiện vận chuyển… và khó tìm được các nhà cung cấp sản phẩm có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu thị trường (29,5%);

           (ii) Nguyên liệu của nông dân khó tiếp cận bên thu mua/ phân phối do vấn đề thủ tục, hợp đồng mua bán, mức độ đồng nhất về chất lượng sản phẩm, giá cả chênh lệch theo thời vụ và giữa các vùng miền (21,6%);

           (iii) DN phân phối sản phẩm phải gánh chịu rủi ro và chịu các tổn thất do tồn kho, hư hỏng trong khâu phân phối (18,8%);

           (iv) Liên kết giữa các DN phân phối với các DN chế biến còn lỏng lẻo (18,5%);

           (v) Người tiêu dùng chủ yếu tìm đến các nông hộ hay các cửa hàng bán lẻ để mua sản phẩm (11,5%) (Hình 24).

 

b) Kết luận:

           Bên cạnh những hạn chế cần khắc phục trong khâu bảo quản và chế biến, DN cần hạn chế một số yếu tố khác như: (i) Năng lực thu mua sản phẩm của các nhà phân phối (như tài chính, phương tiện, tiếp cận bên thu mua/ phân phối, giải quyết rủi ro và chịu các tổn thất do tồn kho, hư hỏng trong khâu phân phối, thông tin sản phẩm và thị trường, v.v.); (ii) Yếu tố luật pháp, tình hình kinh tế xã hội; (iii) Đặc điểm địa lý; (iv) Chủng loại sản phẩm, v.v. Cụ thể:

           - Văn bản pháp luật và tình hình kinh tế chính trị luôn là nhân tố nhạy cảm tác động đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và nền kinh tế nói chung, trong đó có hệ thống phân phối. Dịch vụ xuất khẩu NLTS, đóng một vai trò lớn cho GDP của kinh tế nước nhà trong khi thị trường quốc tế luôn luôn là một thị trường khó tính và nhiều trở ngại. Những tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, dư lượng chất kháng sinh, v.v. khiến cho những nhà phân phối phải tìm hiểu rất kỹ những quy định về hàng hóa xuất nhập khẩu, thuế nhập khẩu, lệ phí có thể vừa tạo cơ hội cũng có thể vừa là phanh hãm cho dịch vụ phân phối.

           - Phân phối có dễ dàng thuận lợi thì hàng hoá mới được tiêu dùng ổn định và thường xuyên. Tại Mỹ và Tây Âu, khi phân tích những nguyên nhân chính dẫn tới sự thất bại của sản phẩm mới tung ra thị trường con số thống kê 2015 đã chỉ ra: 30% do định vị thị trường sai; 30% do không đáp ứng nhu cầu và mong đợi của người tiêu dùng; 30% là do không có đủ chương trình quảng cáo và khuyến mại phù hợp; 10% còn lại là do tổ chức phân phối yếu. Do vậy, hệ thống phân phối đóng một vai trò đặc biệt quan trọng về thành bại của mỗi DN Việt Nam.

           - Đặc điểm địa lý luôn được các DN quan tâm như môi trường khí hậu, sinh thái và địa hình, là mối hiểm hoạ rình rập cho quá trình phân phối. Địa hình Việt Nam chủ yếu là đồng bằng và trung du nên vận chuyển bằng đường bộ là chiếm đa số. Những bất cập về giao thông, địa hình đi lại khó khăn khiến cho quá trình vận chuyển gặp nhiều bất chắc, đã làm cho quá trình phân phối không được thông suốt và hiệu quả. Mặt khác, khí hậu của nước ta là nhiệt đới ẩm gió mùa cũng là vấn đề đáng lưu ý trong quá trình bảo quản và dự trữ hàng hoá. Với thời gian lưu trữ quá dài có thể làm biến đổi chất lượng của sản phẩm.

  16.   Biện pháp thúc đẩy sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tăng cường tính ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi trong hợp đồng liên kết nhà nông, nhà DN, nhà khoa học và tham gia vào chuỗi giá trị NLTS, DNTM toàn cầu

 a) Kết quả khảo sát:

          DN thuộc chuỗi liên kết giá trị cho rằng để có biện pháp thúc đẩy sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tăng cường tính ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi trong hợp đồng liên kết giữa các bên thì DN cần phải:

          (i) Đầu tư sâu cho công nghệ sau thu hoạch (27,5%); (ii) Phát triển các dịch vụ hỗ trợ ngành hàng (25,2%); (iii) Thúc đẩy tiếp cận và mở rộng hệ thống phân phối trong và ngoài nước, tạo kết nối tốt giữa các DN cung ứng và phân phối (24,5%); (iv) Đào tạo và huấn luyện đội ngũ nhân lực chất lượng đáp ứng sự thay đổi của thị trường và yêu cầu của khách hàng; (v) Thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm (23,5%); (vi) Xây dựng thương hiệu hàng hóa (15,1%) (Hình 26).

 

b) Kết luận:

 - Trong những ưu tiên nhằm làm gia tăng sản xuất hàng hóa qui mô lớn chất lượng cao… DN cần trú trọng tăng cường tính ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi trong hợp đồng liên kết giữa các bên thông qua ưu tiên đầu tư sâu cho công nghệ sau thu hoạch, phát triển các dịch vụ hỗ trợ ngành hàng, và thúc đẩy tiếp cận và mở rộng hệ thống phân phối trong và ngoài nước, tạo kết nối tốt giữa các DN cung ứng và phân phối.

- Một trong những khó khăn nhằm đẩy mạnh sản xuất hàng hóa NLTS quy mô lớn là qui hoạch, hoàn thành việc sử dụng đất sau dồn điền, đổi thửa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, chăn nuôi và trồng trọt tập chung. Để từng bước chuyển đổi sản xuất hàng hóa NLTS theo hướng hàng hóa bền vững, công tác nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất cần được đầu tư đồng bộ. Tuy nhiên, quy mô sản xuất kinh doanh của các DNNVV tham gia chuỗi lại nhỏ lẻ, trong khi sự liên kết với nhau lại lỏng lẻo, yếu đầu tư và ứng dụng đồng bộ công nghệ cao trong sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm.
- Ngoài ra, sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm NLTS và ứng dụng công nghệ cao cần có nguồn vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, kết quả sản xuất kinh doanh cũng chịu tác động bởi điều kiện khí hậu, thời tiết, dẫn tới hiệu quả thấp, nên chỉ một số ít DN có tiềm lực mới tham gia đầu tư vào lĩnh vực này.
- Công tác quảng bá sản phẩm ra thị trường, tạo sự kết nối giữa các nhà khoa học với các Hiệp hội DN, các DN sản xuất chế biến sản phẩm nhằm tạo sự đồng thuận có hệ thống, chia sẻ lợi ích và rủi ro, nâng cao năng xuất chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu các loại sản phẩm để bảo đảm đầu ra ổn định cũng cần được quan tâm.
 
 
 

 

 

 

 

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article