Chương trình Quốc gia khởi nghiệp, nhà nước có vai trò định hướng để chỉ rõ cho người khởi nghiệp những kinh nghiệm đi tới thành công và lường tránh sự thất bại. Đối với DN khởi nghiệp đặc biệt DN tham gia chuỗi giá trị NLTS và DVTM, đầu ra của sản phẩm trí tuệ cần có thị trường, với phương châm “công nghệ tốt nhất, giá rẻ nhất”.

17.     Đánh giá cảm nhận của DN nếu được Chính phủ hỗ trợ Khởi nghiệp sáng tạo (KNST) 

           Trong quá trình khởi nghiệp, các doanh nghiệp KNST gặp nhiều khó khăn, tiềm lực chưa mạnh, doanh thu chưa nhiều (thậm chí chưa có doanh thu). Vì vậy, các nhân lực công nghệ cao có xu hướng làm việc hoặc bị thu hút bởi các DN lớn với tiền lương, tiền công cao hơn. Để thu hút nhân lực có trình độ, chất lượng làm việc tại các doanh nghiệp KNST, nhà nước cần có ưu đãi về miễn, giảm thuế TNCN. Quy định này giúp các DN KNST tạo cạnh tranh được về lương với các DN lớn khác.

           a) Kết quả khảo sát:

          17.1 Sự cần thiết và đối tượng hỗ trợ:

          Về đối tượng có nhu cầu nhận sự hỗ trợ của Chính phủ: 93,2% ý kiến DN cho rằng các cơ sở ươm tạo, thúc đẩy KNST; các DN NLTS; và cá nhân KNST là đối tượng phù hợp cho chương trình này; và cũng có 73,5% cho rằng các nhà đầu tư cho KNST là đối tượng phù hợp với hỗ trợ KNST (Hình 26).

 
          17.2   Điều kiện hỗ trợ:

            Hình 27 cho biết chỉ có 58,6% DN cho rằng các DN đáp ứng các điều kiện tiếp nhận hỗ trợ KNST là phù hợp nếu đang hoạt động/bắt đầu hoạt động trong vòng 5 năm; và 46,1% DN KNST có hoạt động trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư quy định tại luật đầu tư.

 
         17.3   Nội dung và biện pháp hỗ trợ:
 

         - Hỗ trợ các DN KNST: Có 68,8% đến 92,6% DN cho là phù hợp. Cụ thể theo thứ tự giảm dần, (i) nếu được miễn thuế môn bài trong vòng 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu (92,6%); (ii) nếu DN KNST không bị thanh tra, kiểm tra trong vòng 01 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu nếu không vi phạm pháp luật (71,1%); (iii) nếu được đào tạo miễn phí khởi sự kinh doanh trong vòng 12 tháng kể từ ngày có phương án sản xuất kinh doanh hoặc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu (68,8%) (Hình 28).

           - DN KNST sẽ được lựa chọn bởi cơ quan chủ trì chương trình (ngoài hỗ trợ các tổ chức, cá nhân, DN khởi nghiệp) hỗ trợ như sau:


 

             Có 55,0% đến 65,8% DN được cho là phù hợp. Cụ thể theo thứ tự giảm dần như sau: (i) Miễn thuế TNDN đối với doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài(65,8%); (ii) Được hỗ trợ kinh phí quầy trưng bày sản phẩm, dịch vụ, nhưng không quá 20 triệu đồng khi tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế về khởi nghiệp (60,9%); (iii) Tư vấn, lập hồ sơ đăng ký sở hữu công nghiệp; 50 triệu đồng khi đăng ký thành công một bằng sáng chế trong nước hoặc quốc tế (60,7%); (iv) Được ưu tiên vay vốn từ Quỹ Phát triển DNNVV (57,0%); (v) Được hỗ trợ tối đa 50% kinh phí khi chủ DN KNST tham gia một khóa đào tạo khởi nghiệp chuyên sâu do cơ quan chủ trì Chương trình lựa chọn, mỗi DN chỉ nhận được hỗ trợ này một lần (55,0%) (Hình 29).

             - Hỗ trợ cơ sở ươm tạo, thúc đẩy KNST (có phương án hỗ trợ các tổ chức, cá nhân, thu hút nhân lực chất lượng cao, đào tạo, tư vấn về khởi nghiệp; có đội ngũ quản lý có kinh nghiệm hỗ trợ KNST):

             Hình 30 cho kết quả 84,2% DN thuộc chuỗi NLTS, và DVTM cho rằng nếu nhà nước hỗ trợ các cơ sở ươm tạo, thúc đẩy KNST là phù hợp.

 

         - Các nhà đầu tư hỗ trợ chương trình KNST:

           Có 70,8% DN thuộc chuỗi cho là phù hợp nếu (i) Các khoản đầu tư góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư được tính vào chi phí giảm trừ khi tính thuế TNCN (khi đầu tư tăng vốn cho DN KNST) và tỷ lệ cổ phần nắm giữ tại DN KNST không quá 30%; và (ii) Các khoản thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn tại DN KNST của các nhà đầu tư được miễn thuế khi: đầu tư tại thời điểm DN KNST chưa có lợi nhuận; đầu tư trên 2 năm; Chuyển nhượng vốn trong vòng 5 năm kể từ ngày DN KNST được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu (Hình 31).

 

- Những yếu tố trả lời khác không đáng kể.

           b)  Kết luận về cảm nhận của DN chuỗi NLTS về chương trình KNST:

          - Kết quả khảo sát gợi ý rằng các chương trình hỗ trợ KNST nếu được triển khai thì nên triển khai một cách có lựa chọn để phù hợp với một lượng kinh phí lớn để nhà nước đầu tư hiệu quả. Mặt khác, các cơ sở ươm tạo, thúc đẩy KNST; các DN KNST và các nhà đầu tư cho KNST không phải luôn luôn là đối tượng phù hợp cho Chương trình hỗ trợ KNST.

          - Điều kiện hỗ trợ gợi ý rằng điều kiện đối với đối tượng tiếp nhận hỗ trợ KNST a) Đang hoạt động/bắt đầu hoạt động trong vòng 5 năm; và b) DN KNST đang hoạt động trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo quy định tại luật đầu tư là không phù hợp với phần lớn các DNNVV. Vì vậy, cần xác định lại điều kiện áp dụng cho chương trình hộ trợ KNST.

          - Nội dung và biện pháp hỗ trợ:

          + Hỗ trợ các DN khởi nghiệp: Kết quả nghiên cứu cho thấy các nội dung và biện pháp hỗ trợ phù hợp với một tỷ trọng tương đối lớn các DN. Nếu các hình thức hỗ trợ này được triển khai thì mức độ ưu tiên triển khai theo thứ tự giảm dần là: (i) được miễn thuế môn bài trong vòng 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu (92,6%); (ii) DN KNST không bị thanh tra, kiểm tra trong vòng 01 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu nếu không vi phạm pháp luật (71,1%); (iii) DN được đào tạo miễn phí khởi sự kinh doanh trong vòng 12 tháng kể từ ngày có phương án sản xuất kinh doanh hoặc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu (68,8%).

          + Hỗ trợ bổ sung đối với DN KNST: Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng, các hình thức hỗ trợ DN KNST bổ sung phù hợp với khoảng 60,5% DN tham gia chuỗi. Cụ thể theo thứ tự giảm dần như sau: (i) DN được miễn thuế TNDN đối với doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài (ii) DN được hỗ trợ kinh phí quầy trưng bày sản phẩm, dịch vụ, nhưng không quá 20 triệu đồng khi tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế về khởi nghiệp; (iii) DN được tư vấn, lập hồ sơ đăng ký sở hữu công nghiệ… (iv) Được ưu tiên vay vốn từ Quỹ Phát triển DNNVV; (v) Được hỗ trợ tối đa 50% kinh phí khi chủ DN KNST tham gia một khóa đào tạo khởi nghiệp chuyên sâu do cơ quan chủ trì Chương trình lựa chọn.

          + 84,2% DN thuộc chuỗi NLTS, và DVTM cho rằng nhà nước hỗ trợ cơ sở ươm tạo, thúc đẩy KNST là phù hợp dưới hình thức “Quỹ Phát triển DNNVV cho vay ưu đãi mua sắm các thiết bị dùng chung để thực hiện ươm tạo, thúc đẩy khởi nghiệp, ưu tiên tiếp cận đất đai để đầu tư cơ sở hạ tầng”.

          + Gần 2/3 số DN thuộc chuỗi nghiên cứu cho rằng việc hỗ trợ cơ sở ươm tạo, thúc đẩy KNST dưới hình thức:(i) Các khoản đầu tư góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư được tính vào chi phí giảm trừ khi tính thuế TNCN (khi đầu tư tăng vốn cho DN KNST) và tỷ lệ cổ phần nắm giữ tại DN KNST không quá 30%; (i) Các khoản thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn tại DN KNST của các nhà đầu tư được miễn thuế khi: đầu tư tại thời điểm DN KNST chưa có lợi nhuận; đầu tư trên 2 năm; chuyển nhượng vốn trong vòng 5 năm kể từ ngày DN KNST được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu… là phù hợp.

18.     Cảm nhận của DN thuộc chuỗi NLTS về Chính phủ hỗ trợ DN chuẩn đoán và tư vấn nâng cao năng lực sản xuất

   Mục tiêu chuẩn đoán các DN NLTS là nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực của DN thông qua hoạt động chẩn đoán, tư vấn và kiến nghị các giải pháp cải thiện các yếu tố cấu thành năng lực nội tại của DN.

 Hoạt động hỗ trợ chủ yếu tập trung và (i) chẩn đoán, tư vấn đánh giá năng lực DN; (ii) chuẩn đoán DN thông qua việc xem xét, đánh giá, nhận diện các hạn chế nội tại của DN. (iii) hỗ trợ sau chuẩn đoán, tư vấn; (iv) tư vấn tái cấu trúc DN, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

           a) Kết quả khảo sát:

           18.1   Tư vấn đánh giá năng lực DN tham gia chuỗi giá trị NLTS, và DVTM.       

 - Có 66,2% đến 81,6% DN cho là phù hợp tùy theo từng vấn đề cụ thể. Phạm vi chẩn đoán, tư vấn xếp theo thứ tự ưu tiên giảm dần như sau: (i) DN được chuyên gia tư vấn chuẩn đoán thông qua việc xem xét, đánh giá, nhận diện các hạn chế nội tại của DN và đưa ra các tư vấn, khuyến nghị để giải quyết (81,6%); (ii) Phạm vi chuẩn đoán, tư vấn: Quản trị sản xuất; quản trị tài chính; quản trị nhân lực; năng lực công nghệ; kết nối DN, tiếp cận thông tin; mở rộng thị trường và các lĩnh vực khác thuộc về năng lực nội tại của DN (70,8%); (iii) và Chính phủ hỗ trợ 100% chi phí chuẩn đoán DN và 50% chi phí tư vấn giải pháp cho DN (66,2%) (Hình 32).

 

      20.2 Hỗ trợ sau chẩn đoán và tư vấn

 Có khoảng 61,4% đến 89,7% DN tham gia chuỗi cho là phù hợp. Cụ thể xét theo thứ tự ưu tiên giảm dần: (i) Sau khi thực hiện các giải pháp đã đề xuất, DN được chuẩn đoán lại miễn phí để đánh giá hiệu quả hoạt động hỗ trợ (89,7%); (ii) DN được hỗ trợ tối đa 50% chi phí tư vấn để chuyển đổi, nâng cấp mô hình sản xuất kinh doanh để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm thích ứng với thay đổi của thị trường (82,5%); (iii) Chính phủ hỗ trợ tối đa 50% kinh phí sử dụng các dịch vụ tư vấn, đào tạo chuyên sâu do các cơ quan, tổ chức của nhà nước cung cấp để thực hiện các giải pháp do chuyên gia tư vấn đề xuất (61,4%) (Hình 33).

           b)  Kết luận về hình thức hỗ trợ chuẩn đoán và tư vấn nâng cao năng lực sản xuất cho DN tham gia chuỗi giá trị:

 - Kết quả khảo sát cho thấy việc triển khai hỗ trợ chuẩn đoán và nâng cao năng lực sản xuất cho DN là cần thiết (61,4% đến 89,7% DN NLTS và DVTM cho là phù hợp).

 

- Kết quả gợi ý nhà nước cần xem xét áp dụng các tiêu chuẩn: a) Có phương án hoặc đang thực hiện phương án mở rộng hoạt động SXKD, mở rộng thị trường, gia tăng giá trị cho các sản phẩm; và b) Cam kết tuân thủ các quy trình quản lý chất lượng, quản trị sản xuất sau khi được hỗ trợ để lựa chọn đối tượng cho chương trình trợ chuẩn đoán và tư vấn nâng cao năng lực cho các DN sản xuất.

 - Kết quả cũng cho thấy việc sử dụng mạng lưới chuyên gia tư vấn có thể đáp ứng nhu cầu của trên ¾ số DN. Các biện pháp cụ thể nên triển khai theo thứ tự ưu tiên như sau: (i) DN được chuyên gia tư vấn chuẩn đoán thông qua việc xem xét, đánh giá, nhận diện các hạn chế nội tại của DN và đưa ra các tư vấn, khuyến nghị để giải quyết; (ii) Phạm vi chuẩn đoán, tư vấn: Quản trị sản xuất; quản trị tài chính; quản trị nhân lực; năng lực công nghệ; kết nối DN, tiếp cận thông tin; mở rộng thị trường và các lĩnh vực khác thuộc về năng lực nội tại của DN; (iii) và Chính phủ hỗ trợ 100% chi phí chuẩn đoán DN và 50% chi phí tư vấn giải pháp cho DN.

 - Trên 1/2 DN trong tổng số 4010 DN được khảo sát cũng cho biết hỗ trợ chuẩn đoán, tư vấn đánh giá năng lực DN phù hợp với nhu cầu của DN. Về phạm vi, chuẩn đoán, tư vấn đánh giá năng lực DN tập trung vào Quản trị sản xuất; quản trị tài chính; quản trị nhân lực; năng lực công nghệ. Sau đó, DN được chuyên gia tư vấn chuẩn đoán, nhận diện các hạn chế nội tại của DN và đưa ra các tư vấn, khuyến nghị để giải quyết. Chính phủ hỗ trợ 100% chi phí chuẩn đoán DN và 50% chi phí tư vấn giải pháp cho DN.

 - Một gợi ý khác, hỗ trợ sau chuẩn đoán, tư vấn phù hợp với nhu cầu của trên ½ DN được khảo sát. Thứ tự ưu tiên thực hiện các hoạt động này là: (i) Sau khi thực hiện các giải pháp đã đề xuất, DN được chẩn đoán lại miễn phí để đánh giá hiệu quả hoạt động hỗ trợ; (ii) DN được hỗ trợ tối đa 50% chi phí tư vấn để chuyển đổi, nâng cấp mô hình sản xuất kinh doanh để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm thích ứng với thay đổi của thị trường; (iii) Chính phủ hỗ trợ tối đa 50% kinh phí sử dụng các dịch vụ tư vấn, đào tạo chuyên sâu do các cơ quan, tổ chức của Nhà nước cung cấp để thực hiện các giải pháp do chuyên gia tư vấn đề xuất.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article