Tham gia vào chuỗi giá trị có thể giúp DNNVV ngành NLTS, và DVTM nhằm gia tăng lợi nhuận, tận dụng được các cơ hội đến từ hội nhập kinh tế quốc gia quốc tế, nâng tầm giá trị của sản phẩm nông nghiệp nông thôn Việt Nam.

 1. Bối cảnh

Tham gia vào chuỗi giá trị có thể giúp DNNVV ngành NLTS, và DVTM nhằm gia tăng lợi nhuận, tận dụng được các cơ hội đến từ hội nhập kinh tế quốc gia quốc tế, nâng tầm giá trị của sản phẩm nông nghiệp nông thôn Việt Nam.

       Tình hình hoạt động của ngành NLTS, và DVTM

 DNNVV Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 98 % tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, trong đó số doanh nghiệp vừa chỉ chiếm 2,2%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29,6% và còn lại 68,2% là siêu nhỏ. Thực tế, DNNVV đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. DNNVV là nơi tạo ra việc làm chủ yếu và tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo…Hàng năm các DNNVV đã tạo ra trên một triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP cho đất nước.

 Với khoảng 70% dân số sống ở nông thôn, 70% lực lượng lao động làm việc trong ngành NLTS, và DVTM nhưng những ngành này chỉ chiếm 17% cơ cấu nền kinh tế, chỉ có khoảng trên 1% DN hiện đang hoạt động trong Ngành. So sánh với lợi thế và tiềm năng của ngành NLTSDV Việt Nam thì số lượng các DN hoạt động trong Ngành này là quá nhỏ bé.

 Theo Tổng cục Thống kê, số DN ngành NLTS cũng có sự sụt giảm từ 3.740 DN năm 2014 còn 3.640 DN trong năm 2015, chiếm dưới 1% tổng số DN. Theo phân ngành, DN hoạt động nhiều nhất trong lĩnh vực nông nghiệp, tiếp đến là thủy sản và thấp nhất là lâm nghiệp. Đặc biệt, trong đó có khoảng 50% DN ngành NLTS có quy mô hoạt động siêu nhỏ (dưới 10 lao động)[1]. Đây chủ yếu là những DN mới được thành lập từ các cơ sở kinh doanh hoặc hộ kinh doanh lớn. Những DN này thường không có cơ cấu tổ chức rõ ràng, mô hình quản lý theo kiểu sơ khai và đặc biệt không có kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn.

 Trong  các DN NLTS thì DN thủy sản nói chung có hiệu quả cao hơn so với DN nông nghiệp và lâm nghiệp. Theo kết quả điều tra năm 2014, tỷ lệ DN thủy sản thua lỗ là 22% thấp hơn DN nông nghiệp (48%), DN lâm nghiệp (37,5%). Bên cạnh đó, chỉ số về hiệu quả sử dụng lao động và hiệu quả sử dụng vốn của DN thủy sản cũng cao hơn DN nông và lâm nghiệp[2].

 Kim ngạch xuất khẩu NLTS 6 tháng đầu năm 2016 đạt gần 2,5 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2016 đạt 15,05 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2015.

 Nhìn chung, giai đoạn 2015-2016, kinh tế Việt Nam còn gặp nhiều có khó khăn, số lượng các doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể tăng nhanh. Do đó Quốc hội và Chính phủ tiếp tục thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp hỗ trợ DN, đặc biệt là DNNVV (về chính sách tiền tệ, tín dụng, tài khoá, thuế, đất đai...).

 ►      Về chính sách tài chính hỗ trợ DNNVV

 Chính sách thuế: Theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN, số 32/2013/QH13, DNNVV sẽ được hưởng mức thuế suất 20% thấp hơn so với mức thuế suất phổ thông là 22%.

 Chính sách lãi suất: NHNN đã điều chỉnh giảm các mức lãi suất, đối với các lĩnh vực ưu tiên trong đó có DNNVV, lãi suất thấp hơn từ 1-2% so với các lĩnh vực khác.

 Thành lập Quỹ Phát triển DNNVV: Đây được coi là một tổ chức tài chính đầu tiên của Nhà nước dành riêng cho DNNVV. Mục tiêu hoạt động của Quỹ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNVV, góp phần làm tăng thu nhập, tạo việc làm cho người lao động và tạo động lực phát triển

 Chính sách bảo lãnh tín dụng: Hiện cả nước đã thành lập 25 Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV do UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý. Ngoài ra, Ngân hàng phát triển Việt Nam cũng đẩy mạnh hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV.

 - Quỹ Bảo lãnh tín dụng tại địa phương: Thông tư số 05/2015/TT-NHNN ngày 4/5/2015 của NHNNVN về hướng dẫn các tổ chức tín dụng phối hợp với Quỹ BLTD trong cho vay có bảo lãnh của Quỹ BLTD theo quy định tại Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Thông tư số 29/2014/TT-NHNN ngày 9/10/2014 về hướng dẫn các ngân hàng thương mại trong việc phối hợp với Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong việc thực hiện cơ chế BLTD cho DNNVV. Như vậy, hoạt động BLTD cho DNNVV được triển khai thông qua Quỹ BLTD tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan ban hành, hướng dẫn khá đầy đủ, chi tiết.

 - Một số vấn đề còn tồn tại, vướng mắc: (i) Các Quỹ BLTD có quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế; việc tham gia góp vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân đối với quỹ BLTD và nguồn vốn dành cho hoạt động bảo lãnh tín dụng (NHPT) còn thấp nên ảnh hưởng đến nhu cầu được bảo lãnh vay vốn của các DNNVV; (ii) Công tác phối hợp, triển khai, thông tin, tuyên truyền hoạt động BLTD giữa các đơn vị, các cấp chính quyền tại địa phương đã được quan tâm triển khai nhưng hiệu quả chưa cao; nhiều địa phương bố trí nguồn lực chưa tương xứng; (iii) Từ khó khăn chung của nền kinh tế trong giai đoạn vừa qua, nhiều SMEs đã được bảo lãnh vay vốn NHTM để phát triển SXKD nhưng hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ, phá sản… dẫn tới việc không trả được nợ vay cho các NHTM, là nguyên nhân các tổ chức BLTD phải đứng ra trả nợ thay, phát sinh các khiếu kiện, tranh chấp giữa các bên liên quan.

 - Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 119/2015/TT-BTC ngày 12/8/2015 hướng dẫn cơ chế tài chính cho Quỹ Phát triển DNNVV và Thông tư số 37/2016/TT-BTC ngày 29/02/2016 về ban hành lãi suất cho vay của Quỹ phát triển DNNVV. Theo đó, mức lãi suất cho vay vốn ngắn hạn với thời gian vay vốn dưới 01 năm (không bao gồm vốn lưu động) là 5,5%/năm; Lãi suất cho vay vốn trung và dài hạn là 7,0%/năm.

       Về chính sách tài chính hỗ trợ DNNVV liên kết chuỗi giá trị

 Điển hình có thể kể đến chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn (Nghị định 210/2013/NĐ – CP ngày 19/12/2013).

 Các chính sách ưu đãi về đất đai bao gồm: Miễn, giảm tiền sử dụng đất; miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước; Hỗ trợ thuê đất, thuê mặt nước của hộ gia đình, cá nhân; Miễn, giảm tiền sử dụng đất khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

 Các chính sách hỗ trợ đầu tư bao gồm: Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường và áp dụng khoa học công nghệ; hỗ trợ đầu tư cơ sở giết mổ gia súc gia cầm; hỗ trợ đầu tư cơ sở chăn nuôi gia súc; hỗ trợ trồng cây dược liệu, hỗ trợ đầu tư nuôi trồng hải sản trên biển; hỗ trợ đầu tư cơ sở sấy lúa, ngô, khoai, sắn, sấy phụ phẩm, thủy sản, chế biến cà phê; hỗ trợ đầu tư cơ sở chế tạo, bảo quản, chế biến NLTS; hỗ trợ đầu tư chế biến gỗ rừng trồng đặc thù cho các tỉnh Tây Bắc và các tỉnh có huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP.

 Hỗ trợ liên kết nông dân – DN theo Quyết định 62/2013/QĐ-TTg: Miễn tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất khi được nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất; hỗ trợ một phần kinh phí thực hiện quy hoạch, cải tạo đồng ruộng, hoàn thiện hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng, hệ thống điện phục vụ sản xuất nông nghiệp trong dự án cánh đồng lớn; hỗ trợ tối đa 50% kinh phí tổ chức đào tạo và hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân sản xuất nông sản theo hợp đồng.

 Chương trình thí điểm cho vay đối với các mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao và phục vụ xuất khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp như Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 05/03/2014. Hỗ trợ một phần lãi suất và hạn mức vay cao hơn trước cho DN thực hiện liên kết, ứng dụng công nghệ cao và phục vụ xuất khẩu.

 Hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch: Quyết định 57/2010/QĐ-TTg ngày 17/09/2010, Quyết định số 68/2013/QĐ-TT ngày 14/11/2013; miễn tiền thuê đất xây dựng kho thóc chứa; hỗ trợ tín dụng cho thu mua tạm trữ; hỗ trợ tiếp cận tín dụng dài hạn, lãi suất ưu đãi cho đầu tư máy móc, thiết bị.

 Miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp theo Nghị quyết 55/2010/QH-12; Chính sách hỗ trợ việc áp dụng VIETGAP trong NLTS theo Quyết định 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012.

 ►      Về chính sách hỗ trợ DNNVV về mặt bằng kinh doanh, đổi mới công nghệ

 - Hỗ trợ về mặt bằng sản xuất kinh doanh: Giai đoạn từ ngày 1/7/2014 đến nay: Theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, ưu đãi tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với DNNVV. Pháp luật thuế hiện hành đã có quy định ưu đãi đối với DN có dự án đầu tư SXKD trong các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế, trong đó phân biệt ưu đãi tùy theo địa bàn.   .

 - Hỗ trợ đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật: Tại khoản 2, Điều 20, Nghị định số 95/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định cơ chế đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học, công nghệ quy định: Đối với DN KH&CN được hưởng chế độ miễn, giảm thuế TNDN như doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghệ cao theo quy định của pháp luật về thuế TNDN. Thông tư liên tịch số 79/2014/TTLT/BTC-BKHCN ngày 18/6/2014 hướng dẫn quản lý tài chính Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020.

 - Thông tư liên tịch số 49/2014/TTLT/BTC-BKHCN ngày 23/4/2014 hướng dẫn quản lý tài chính của Chương trình.

 Như vậy, các cơ chế chính sách hỗ trợ của Nhà nước dành cho KH&CN về cơ bản đã được ban hành đầy đủ, phù hợp với quan điểm, định hướng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, đồng thời đã hỗ trợ tích cực về đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật cho doanh nghiệp.

 ►      Về chính sách hỗ trợ DNNVVphát triển thị trường, bồi dưỡng nguồn nhân lực

 - Hỗ trợ xúc tiến mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm: Thông tư số 171/2014/TT-BTC ngay 14/11/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế tài chính hỗ trợ từ Ngân sách nhà nước để thực hiện Chương trình XTTM quốc gia. Nội dung của Chương trình là XTTM thị trường trong nước; XTTM miền núi, biên giới và hải đảo; XTTM định hướng xuất khẩu. Kinh phí để thực hiện Chương trình bình quân 80.000 triệu đồng/năm. 

 - Chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho SMEs: Tiếp tục thực hiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (NĐ 56/2009/NĐ-CP), Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ KH&ĐT ban hành Thông tư liên tịch số 05/2011/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 31/3/2011 và sau đó là Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 13/8/2014 hướng dẫn trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các DNNVV (thay thế TTLT số 05/2011/TTLT-BKHĐT-BTC).

 ►      Về chính sách hỗ trợ thuế

 - Luật số 71/2015/QH13 được ban hành một mặt để sửa đổi bổ sung những vấn để bất cập so với thực tế, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, mặt khác cũng bổ sung thêm các chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy đầu tư như bổ sung quy định ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, v.v.

 - Để giải quyết các vướng mắc trong quan hệ thương mại với các nước (các nước cho rằng miễn thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp là một hình thức trợ cấp của Chính phủ), đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, đồng thời đảm bảo ổn định đời sống người nông dân, khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi quy định “miễn thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp” thành quy định “không thu thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp”.

 - Nhà nước đã thực hiện điều chỉnh hàng năm các mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) theo đúng lộ trình cam kết với WTO kể từ khi gia nhập và nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ cam kết quốc tế.

 - Ngày 6/4/2016, tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13, với hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2016. Luật có nhiều điểm mới đảm bảo tính đồng bộ, hoàn thiện trong hệ thống pháp luật, đáp ứng các yêu cầu của quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính, hội nhập quốc tế như hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với FTA; khuyến khích phát triển và bảo hộ hợp lý SXKD trong nước.

 - Vừa qua, để tiếp tục hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP với nhiều giải pháp về chính sách và quản lý thuế đối với SMEs, giải pháp để thực hiện từ nay đến năm 2020.

       Vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức

 Theo đánh giá của VCCI, nguyên nhân có thể xuất phát từ những hạn chế liên quan tới marketing hay thông tin kết nối cung cầu, chưa đáp ứng những tiêu chuẩn về quản lý sản xuất, chất lượng của các DN FDI tại Việt Nam. Mặt khác, DN FDI hoạt động tại Việt Nam chủ yếu có quy mô nhỏ, hướng vào xuất khẩu và có mức lãi tương đối thấp cho thấy, họ thường cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các nhà sản xuất lớn hơn hoặc tập đoàn đa quốc gia. Do đó họ thường nằm ở những vị trí thấp nhất trong chuỗi giá trị sản phẩm, nghĩa là họ lại trở thành đối thủ cạnh tranh của các DN NLTS nội.

 Việt Nam đã có nhiều chính sách hỗ trợ DNNVV ngành NLTS gia nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng nhiều chính sách vẫn chưa đi vào cuộc sống bởi vẫn tồn tại một số khó khăn vướng mắc chủ yếu như sau:

 - Mặc dù các chính sách tài chính hỗ trợ DNNVV ngành NLTS đã tương đối là đầy đủ nhưng do thủ tục hành chính còn khá phiền hà, làm gia tăng chi phí của các DNNVV nông lâm thủy sản. Theo Báo cáo Tạo thuận lợi cho kinh doanh nông nghiệp 2016 của Ngân hàng Thế giới dựa trên điều tra 40 nước cho thấy, môi trường kinh doanh nông nghiệp Việt Nam ở dưới mức trung bình chung của các nước.

 - Các địa phương không bố trí đủ kinh phí để xây dựng hạ tầng cơ sở cho các dự án NLTS ứng dụng công nghệ cao. Khi thực hiện đầu tư mới hoặc đầu tư mở rộng các DN phải tự lo liệu vấn đề này. Với quy mô hoạt động nhỏ, vốn ít đây thực sự là một khó khăn cho các DNNVV ngành NLTS.

 - Nhiều DNNVV ngành NLTS vẫn khó khăn khi tiếp cận vốn tín dụng do hoạt động cho vay cần chừng của các ngân hàng thương mại đối với các DN siêu nhỏ, các NHTM vẫn lo ngại rủi ro cao khi cho vay đầu tư vào ngành NLTS nhất là ngành nông nghiệp. Chi phí giao dịch đối với các DNNVV đặc biệt là các DN nhỏ và siêu nhỏ là khá cao so với quy mô vốn của họ.

 - Các dự án đầu tư vào lĩnh vực NLTS rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vỗn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), hoặc nguồn vốn ưu đãi của các nhà tài trợ. Mặt khác, các dự án đầu tư vào những ngành này có tính rủi ro cao do chịu ảnh hưởng lớn từ yếu tố thời tiết, môi trường, khí hậu… do đó càng cản trở DNNVV ngành NLTS tiếp cận vốn ưu đãi từ nước ngoài.

       Vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức các tác nhân tham gia chuỗi giá trị

 Nhà sản xuất: Sản xuất hiện nay chủ yếu vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán chưa tuân thủ quy trình sản xuất, chưa tạo ra sản phẩm an toàn chất lượng đáp ứng người tiêu dùng. Các hộ sản xuất chưa chú ý tới việc liên kết nhóm hộ mà vẫn sản xuất tự phát mạnh ai người đó làm nên chưa tạo được vùng sản xuất tập trung, dòng sản phẩm đủ lớn và ổn định. Trong khi đó các DN tiêu thụ sản phẩm thường ký các hợp đồng với các trang trại lớn, các vùng có lượng sản phẩm lớn và ổn định. Đặc biệt tình trạng người sản xuất phá vỡ liên kết khi giá sản phẩm gia tăng đột biến, tự ý bán phá giá cho các thương lái khác khi giá bán cao hơn thường xuyên xảy ra…. Điều này dẫn đến hậu quả tình trạng “được mùa mất giá, ít thiếu nhiều thừa”, hiệu quả kinh tế không cao, chưa tạo được tính bền vững trong sản xuất NLTS nói chung. Nguyên nhân là do nhận thức của DN, người dân nhiều nơi còn thấp, thiếu thông tin thị trường, một số bộ phận còn chạy theo lợi ích trước mắt.

 Doanh nghiệp làm trung gian phân phối: Đầu tư sản xuất nông nghiệp hiệu quả không cao, tính rủi ro lớn, bên cạnh đó là chính sách hỗ trợ cho DN đầu tư vào sản xuất chế biến NLTS còn chưa cụ thể nên phần lớn các DN chưa mặn mà đầu tư vào lĩnh vực NLTS.

 Việc liên kết giữa DN tiêu thụ sản phẩm và phía cung cấp nguyên vật liệu, sản phẩm là chưa bền vững do việc thiết lập cơ chế chia sẻ lợi nhuận, rủi ro, chủ yếu vẫn liên kết theo hình thức thương thảo thuận mua vừa bán. Tình trạng tiêu thụ sản phẩm vẫn còn qua nhiều khâu trung gian phân phối nên giá bán thực tế cao hơn nhiều so với giá thu mua tại cơ sở sản xuất, sức cạnh tranh chưa cao, chưa chiếm được lòng tin của người tiêu dùng. Công tác tuyên truyền quảng bá marketting giới thiệu sản phẩm của các DN tham gia chuỗi giá trị NLTS còn yếu.

 Kênh bán lẻ: Đối với kênh bán lẻ, việc giới thiệu quảng bá sản phẩm, tư vấn chăm sóc khách hàng chưa được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó chưa có sự phản hồi thông tin hai chiều giữa người sản xuất và người tiêu dùng thông qua kênh bán lẻ để từ đó tạo ra sản phẩm đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.

 Người tiêu dùng: Người tiêu dùng hiện nay phần lớn thiếu thông tin về sản phẩm, chưa biết cách nhận diện sản phẩm an toàn chất lượng cao, chưa nắm được địa chỉ cơ sở sản xuất uy tín, bên cạnh đó một bộ phận người tiêu dùng thích các sản phẩm giá rẻ. Nguyên nhân là do công tác thông tin truyền thông định hướng sản phẩm theo khách hàng của DN còn hạn chế. Hậu quả người tiêu dùng phải sử dụng hàng hóa kém chất lượng ảnh hưởng đến sức khỏe và mất lòng tin với nhà sản xuất.

2.  Mục đích và nội dung nghiên cứu chính

 Tư vấn hỗ trợ Cục PTDN thực hiện khảo sát DNNVV Việt Nam nhằm thu thập những thông tin sau đây:

 - Thu thập và nắm bắt thông tin về thực trạng hoạt động của doanh nghiệp trong 1 số chuỗi giá trị thuộc các nhóm ngành: NLTS, và DVTM năm 2015-2016;

 - Xây dựng cơ sở dữ liệu về thực trạng hoạt động của DN  trong 1 số chuỗi giá trị thuộc các nhóm ngành: NLTS, và DVTM năm 2015-2016;

 - Tổng hợp, xây dựng Báo cáo về thực trạng hoạt động DN trong 2015-2016 để làm cơ sở nghiên cứu, đề xuất chính sách trợ giúp phát triển DN theo chức năng, nhiệm vụ được giao của Cục Phát triển doanh nghiệp.

  3.  Nhiệm vụ của tư vấn

 Nhiệm vụ của tư vấn sẽ bao gồm nhưng không giới hạn những công việc chủ yếu sau đây:

           (i) Tìm hiểu thực tiễn, các khó khăn, thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV trong 1 số chuỗi giá trị thuộc các nhóm ngành: NLTS và DVTM trong những năm 2015-2016; nghiên cứu, phân tích, đánh giá các tác nhân (ví dụ: giống, hậu cần, kỹ thuật, chế biến, dịch vụ) có ảnh hưởng đến hoạt động của các chuỗi giá trị được lựa chọn. Bước đầu phân tích lợi ích (chi phí, cơ hội và nguy cơ) của mỗi tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị để phân tích đề xuất chính sách tác động nâng cao năng lực chuỗi ngành hàng.

          (ii) Nghiên cứu, phân tích đánh giá sơ bộ tác động của các hoạt động hỗ trợ của nhà nước; nghiên cứu, tổng hợp các nhu cầu ưu tiên hỗ trợ của của DNNVV trong 1 số chuỗi giá trị thuộc các nhóm ngành: NLTS, và DVTM.

           (iii) Đưa ra phương pháp luận cụ thể cho việc thu thập dữ liệu ban đầu, cách thức thu thập mẫu và tính toán phải dựa trên các kỹ thuật thống kê đúng đắn nhằm đảm bảo đúng phương pháp thống kê.

          (iv) Trên cơ sở thông tin, dữ liệu ban đầu về doanh nghiệp, tư vấn rà soát, cập nhật, bổ sung thông tin, dữ liệu để dùng làm cơ sở xây dựng bộ thông tin dữ liệu về DNNVV. 

          (v) Kiểm tra, tổng hợp, thống kê các phiếu điều tra khảo sát.

          (vi) Xây dựng phương pháp đánh giá định tính, định lượng: Chọn mẫu, thiết kế bảng hỏi, tổng hợp kết quả khảo sát, phân tích dữ liệu, v.v.

 (iiv) Ngoài ra, Tư vấn Công ty DAVILAW sẽ thực hiện những nhiệm vụ như sau:

 -     Lập kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện khảo sát các DN, ưu tiên DNNVV ở các địa phương được lựa chọn (có sự thống nhất với Cục PTDN).

 -     Xây dựng khung tổng thể bộ phiếu khảo sát bao gồm đối tượng là các loại hình DN NLTS, và DVTM, thời hạn khảo sát, nội dung khảo sát, v.v.

 -     Hoàn thành bộ phiếu khảo sát liên quan đến thông tin DNNVV(Phụ lục 1).  

 - Thảo luận với Cục PTDN để lấy ý kiến góp ý về bộ phiếu khảo sát, điều chỉnh phiếu khi có yêu cầu cần bổ sung và sửa đổi phù hợp.

 - Đề xuất khảo sát gồm: Địa phương, đối tượng và thành phần, thời gian, địa điểm và hậu cần (có sự hỗ trợ của Trung tâm thông tin trực thuộc Cục PTDN, cả về nội dung, đơn vị phối hợp thực hiện ở địa phương, chuẩn bị tài liệu và phương tiện/trang thiết bị khảo sát đi kèm, v.v.

 - Thực hiện khảo sát dưới hình thức phỏng vấn trực tiếp, tọa đàm, thảo luận nhóm, gửi phiếu khảo sát qua đường bưu điện, phỏng vấn trực tiếp trên điện thoại. Mặt khác, phát triển thảo luận với các hiệp hội và các cơ quan tổ chức trợ giúp phát triển DN ở trung ương và địa phương. 

4. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
 
Báo cáo tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và ý kiến của DN về nhu cầu hỗ trợ của Chính phủ.

 Phạm vi nghiên cứu trên cả nước (tập trung ở bốn khu vực kinh tế trọng điểm gồm 24 tỉnh đã được Thủ tướng phê duyệt năm 2009), các DN đang hoạt động, ngành nghề khảo sát gồm NLTS, và DVTM.

            a)   Nguồn nghiên cứu

          Thu thập số liệu, tài liệu (gồm định tính và định lượng) từ Cục PTDN- Bộ KHĐT, VCCI, Bộ tài chính, các cơ quan quản lý ở các địa phương, các DN ở các tỉnh khảo sát.

          b)   Điều tra, phỏng vấn thử để hoàn thiện phiếu khảo sát:

          Khi bộ phiếu khảo sát hoàn chỉnh (có góp ý, bổ sung của Cục PTDN), tư vấn đã phỏng vấn, điều tra thử 10 DN, nhóm tư vấn rút kinh nghiệm và chỉnh sửa, cụ thể và đơn giản hóa một số câu hỏi cho phù hợp với các đối tượng khảo sát. Bộ phiếu khảo sát hoàn thiện được sử dụng cho cuộc điều tra khảo sát chính thức ở các địa bàn trong cả nước.

          c) Tham khảo ý kiến chuyên gia:

          Sau khi hoàn thành dự thảo báo cáo, tư vấn xin ý kiến chuyên gia ở những lĩnh vực chuyên sâu để bổ sung các thông tin nhằm tăng cường tính xác thực của báo cáo. Cụ thể, những phần báo cáo liên quan đến lĩnh vực chuỗi ngành nông,lâm,thủy sản, và DVTM, tư vấn sẽ xin ý kiến đóng góp của chuyên gia chuyên ngành phù hợp. Sau khi tiếp thu, bổ sung và chỉnh sửa, nhóm tư vấn sẽ xin ý kiến Trung tâm thông tin hỗ trợ doanh nghiệptiếp tục hoàn thiện báo cáo để trình bày tại các cuộc hội thảo liên quan đến chủ đề nghiên cứu.

         d) Phương pháp phân tích:

           Báo cáo sử dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng. Hai phương pháp này sẽ giúp nội dung báo cáo phong phú, khá toàn diện và chính xác hơn.

           Phân tích định tính: Phân tích các đặc điểm, tiềm năng, xu hướng của DN và nhu cầu hỗ trợ từ Chính phủ đối với DN.

           Phân tích định lượng: Phân tích, mô tả, so sánh các số liệu, chỉ số liên quan đến các hoạt động nghiên cứu khảo sát thông qua việc sử dụng phân tích định lượng số liệu thứ cấp và sơ cấp.

 5.  Kết cấu phiếu khảo sát và nội dung khảo sát

    Khảo sát được thực hiện theo hình thức thu thập thông tin DN thông qua phiếu khảo sát.

     Phiếu khảo sát được thiết kế với 5 phần cơ bản gồm:

     - Phần A: Thông tin chung DN trả lời khảo sát;

     - Phần B: Những thuận lợi, khó khăn của DN khi tham gia chuỗi giá trị, đầu tư mở rộng sản xuất, tổ chức phát triển thị trường và kênh phân phối;

     - Phần C: Đánh giá tác nhân góp phần ảnh hưởng tới chuỗi giá trị;

     - Phần D: Tác động từ chính sách hỗ trợ của nhà nước trong việc tham gia và nâng cao năng lực trong chuỗi giá trị;

     - Phần E: Nhà nước hỗ trợ nhu cầu của DN nhằm nâng cao năng lực chuỗi giá trị.

 6. Về địa bàn khảo sát

 Các cuộc khảo sát DNđược tiến hành ở38 tỉnh thành thuộc 04 khu vực kinh tế trọng điểm cả nước, với số mẫu được lựa chọn ngẫu nhiên thuộc bốn nhóm ngành NLTS, và DVTM ở mỗi địa phương.

 Để thực hiện điều tra, nhóm tư vấn đã in tổng số trên 4100 phiếu khảo sát. Dựa trên danh sách được lập ra, nhóm tư vấn đã tổ chức khảo sát DN từ tháng 11 đến tháng 12/2016.

  Kết quả như sau, đã có 4100 DN tham gia trả lời khảo sát, Tư vấn phát hiện và loại ra một số phiếu không hoàn chỉnh (bỏ trống một số câu hỏi hoặc trả lời không đúng hướng dẫn), trả lời không sát với diễn biến tình hình kinh tế xã hội hiện nay (số phiếu này chiếm tỷ lệ không đáng kể) nên không làm thay đổi chất lượng thông tin. Tư vấn chỉ chọn ra 4010 phiếu đạt yêu cầu, số phiếu này được xem như đại diện tương đối cho ý kiến các DN nghiên cứu, phản ánh sát thực tế và nhu cầu chung của các DN hiện nay ở Việt Nam.

 Kết quả khảo sát đã cho thấy nhu cầu thiết thực trong vấn đề DN quan tâmcần được hỗ trợ từ chính phủ,các tổ chức trợ giúp DN, nên tư vấn xem đây là căn cứ có ý nghĩa cho các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ chức có chức năng hỗ trợ DN những nội dung liên quan.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article