1. Các Dự án do ADB (Asian Development Bank) tài trợ

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tài trợ phát triển DNNVV theo 2 hình thức: Khoản vay Phát triển DNNVV và Dự án HTKT để hỗ trợ chuẩn bị/thực hiện Khoản vay.

(i)               Khoản vay Phát triển DNNVV lần thứ nhất (SDPL 1) (đã kết thúc). Khoản vay gồm 2 tiểu chương trình:

·        Tiểu chương trình I (Khoản vay 2045-VIE) từ tháng 11/2004 đến tháng 9/2006, trị giá 80 triệu USD vốn vay của ADB, AFD đồng tài trợ 22 triệu EUR và KfW đồng tài trợ 14 triệu EUR.

·        Tiểu chương trình II (Khoản vay 2284-VIE) từ tháng 9/2006 đến tháng 6/2008. Số vốn vay cam kết cho Tiểu Chương trình II là 20 triệu USD của ADB, các khoản đồng tài trợ gồm 13 triệu EUR của AFD và 6 triệu EUR của KfW.

·        Sau khi hoàn tất các điều kiện chính sách theo Ma trận chính sách của Khoản vay đã được ký kết, ADB và các nhà đồng tài trợ đã giải ngân vốn và Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành các thủ tục rút vốn Khoản vay, cụ thể như sau: Tiểu chương trình I (tháng 8/2005 và 9/2006), Tiểu chương trình II (tháng 2/2009).

·        Các cơ quan thực hiện các điều kiện chính sách của Khoản vay này gồm: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ.

(ii)             Khoản vay Phát triển DNNVV lần thứ hai (SDPL 2) gồm 2 tiểu chương trình:

·        Tiểu chương trình 1: từ 9/2008 đến tháng 8/2010, tổng kinh phí là 40 triệu USD, vốn vay từ nguồn ADF của ADB trong thời gian 24 năm bao gồm thời gian ân hạn 8 năm với tỷ lệ lãi suất 1% mỗi năm trong thời gian gia hạn và 1,5% mỗi năm sau thời gian gia hạn trở đi.

·        Khoản vay này sẽ hỗ trợ Chính phủ trong công cuộc ổn định nền kinh tế vĩ mô và cải cách cơ bản về mặt chính sách cũng như thực tế nhằm đẩy mạnh sự phát triển của khối DNNVV. Ma trận chính sách của SDPL 2 (tiểu chương trình 1) gồm 28 điều kiện chính sách, do Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công thương, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện.

·        Ngày 26/5/2011, ADB tuyên bố khoản vay có hiệu lực sau khi các điều kiện chính sách đã được hoàn tất và Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành các thủ tục rút vốn Khoản vay theo cam kết đã thỏa thuận.

·        Tiểu chương trình 2: thời gian đàm phán và ký kết tháng 11 năm 2013, giải ngân năm 2014, tổng giá trị Khoản vay 50.000.000USD (vốn vay ưu đãi ADF).

(iii)          Bên cạnh đó, ADB đưa ra các Dự án Hỗ trợ kỹ thuật ngắn hạn: TA 4031 (từ năm 2003), TA 4781 (từ 2007-2008), TA 7063 (từ 2008-2009, gia hạn đến hết 2011) và TA 8184 (đang thực hiện). Các dự án HTKT này chủ yếu hỗ trợ các cơ quan Việt Nam xây dựng và thực hiện các điều kiện chính sách của các khoản vay.

2. Các Dự án do UNIDO tài trợ

(i)               Dự án “Hỗ trợ thành lập cơ cấu trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa cấp quốc gia và cấp tỉnh” (đã kết thúc 12/2008)

·        Thời gian thực hiện dự án là 4 năm, từ tháng 4/2004, tổng kinh phí do UNIDO tài trợ là $ 3.810.000.

·        Dự án nhằm hỗ trợ cơ cấu trợ giúp phát triển DNNVV gồm Cục Phát triển Doanh nghiệp, Hội đồng khuyến khích phát triển phát triển DNNVV và khởi động mối liên kết với mạng lưới đầu mối cấp tỉnh. Dự án đã có những hỗ trợ cụ thể dành cho Cục như đào tạo cán bộ, hỗ trợ Cục sửa đổi bổ sung Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp Phát triển DNNVV, soạn thảo và trình Lãnh đạo ban hành Quyết định số 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/10/2006 về Kế hoạch 5 năm Phát triển DNNVV giai đoạn 2006-2010, thí điểm thiết lập đầu mối cấp tỉnh triển khai các chương trình hỗ trợ DNNVV tại Thái Nguyên, Lào Cai, Bình Thuận, Quảng Ninh, hỗ trợ Cục xây dựng và vận hành Cổng thông tin doanh nghiệp quốc gia (www.business.gov.vn).

(ii)             Dự án “Phát triển Cụm DNNVV”

·        Dự án được tiếp nối từ dự án “Hỗ trợ thành lập cơ cấu trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa cấp quốc gia và cấp tỉnh”, do Chính phủ Italy tài trợ qua UNIDO với tổng số tiền là 3 triệu Euro thực hiện từ tháng 1/2009 đến hết tháng 6/2012.

·        Các hoạt động của dự án nhằm đạt được 3 kết quả chính: (i) Phân tích các ngành nghề liên quan đến DNNVV Việt Nam và châu Âu; và lựa chọn tối đa 3 cụm DNNVV xuất khẩu để kết nối kinh doanh; (ii) Cải thiện, nâng cấp tối đa 3 cụm công nghiệp xuất khẩu Việt Nam; các hiệp hội tương ứng và các DNNVV trong mỗi cụm đó; (iii) Liên kết kinh doanh giữa các cụm DNNVV xuất khẩu của Việt Nam cũng như các hiệp hội với các cụm DNNVV, các hiệp hội châu Âu.

 

3. Các Dự án do JICA tài trợ

(i)               Dự án “Tăng cường năng lực cho Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DNNVV tại Hà Nội (TAC HN)” (đã kết thúc)

·        Dự án thực hiện từ tháng 8/2006 đến tháng 8/2008 với tổng chi phí là 11,360,638,966 đồng, trong đó, vốn ODA viện trợ không hoàn lại của JICA là 10,464,340,566 đồng, vốn đối ứng là 896.298.400 Đồng.

·        Dự án đã hỗ trợ đào tạo cán bộ, hỗ trợ TAC tổ chức các chuyến khảo sát DNNVV trong và ngoài nước, hỗ trợ TAC tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo cho DNNVV, kết nối DNNVV, thiết lập và duy trì hoạt động của website của TAC: www.hotrodoanhnghiep.gov.vn.

(ii)             Dự án “Tăng cường chức năng công về trợ giúp DNNVV”

·        Theo văn kiện được phê duyệt, dự án được thực hiện trong 03 năm (từ tháng 7/2011 đến tháng 7/2014). Tổng số vốn của dự án là 2.742.392 USD, trong đó vốn ODA do JICA tài trợ là 197.242.000 yen (tương đương 2.465.525 USD), Vốn đối ứng dự kiến: 5.692.389.000 đồng (tương đương 276.867 USD).

·        Dự án hỗ trợ Cục Phát triển Doanh nghiệp trong việc: (i) tăng cường năng lực phối hợp với các Bộ ban ngành Trung ương liên quan tới phát triển DNNVV, (ii) xây dựng năng lực một cách hiệu quả cho cán bộ phụ trách phát triển DNNVV, (iii) tăng cường kết nối kinh doanh giữa nhà lắp ráp và công nghiệp phụ trợ địa phương, (iv) xây dựng tầm nhìn vững chắc về một cơ cấu tổ chức phù hợp cho việc thực hiện chính sách phát triển DNNVV.

 

4. Dự án do DANIDA tài trợ

Chương trình hỗ trợ khu vực doanh nghiệp (BSPS) – Ban Thư ký chương trình (điều phối chung) và Hợp phần 1: Môi trường kinh doanh cấp tỉnh (đã kết thúc)

·         Dự án thực hiện từ tháng 5/2005-12/2009, Vốn ODA: 43.748 triệu DKK.

·        Hợp phần 1 được thực hiện tại 4 tỉnh Hà Tây (cũ), Nghệ An, Khánh Hoà và Lâm Đồng. Dự án tiến hành các hoạt động khảo sát, tư vấn trong việc xúc tiến phát triển DNNVV và đóng góp nhiều vào tiến trình cải cách hành chính ở 4 tỉnh mục tiêu. Bên cạnh đó, dự án cũng thực hiện các hoạt động đào tạo cho cán bộ của Cục và hỗ trợ Cục trong việc thu thập ý kiến, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được giao.

5. Dự án do EU tài trợ

Chương trình Hỗ trợ Khu vực tư nhân Việt Nam (VPSSP) (đã kết thúc)

·        Tổng vốn 11.145.000EUR, trong đó: Vốn ODA: 9.050.000EUR, Vốn ngân sách: 2.095.000EUR

·        Thời gian thực hiện: 3/2005 - 12/2008

·        hỗ trợ các tỉnh đơn giản hoá các thủ tục về ĐKKD, đăng ký đầu tư, đất đai tại các tỉnh Cần Thơ, Đà Nẵng, Long An, Hải Phòng, Huế, Hòa Bình; Thiết lập các mô hình đối thoại công tư như LED café; Tăng cường năng lực cho DNNVV trong ngành vận tải đường bộ tải trọng lớn tại các tỉnh lựa chọn; Thành lập các câu lạc bộ BDS tại Đà Nẵng và Cần Thơ; Xúc tiến phát triển các ngành du lịch, thủy sản (cá tra và cá basa), làng nghề tại các tỉnh lựa chọn; Thành lập vườm ươm doanh nghiệp tại Hà Nội (về chế biến và đóng gói thực phẩm) và TP Hồ Chí Minh (về IT).

6. Dự án do GTZ tài trợ

Dự án “Chương trình Phát triển DNNVV” (đã kết thúc)

·        Thời gian thực hiện Chương trình: từ 1/5/2005 đến 30/4/2009.

·        Tổng vốn: Chính phủ CHLB Đức viện trợ không hoàn lại được phê duyệt là 8.311.000 EUR; Chính phủ Việt Nam đóng góp vốn đối ứng về nhân lực các cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý Việt Nam ở cấp quốc gia và địa phương, văn phòng làm việc…

·        Chương trình được thực hiện tại cấp trung ương (Hà Nội), 4 tỉnh lựa chọn gồm Hưng Yên, Quảng Nam, Đăk Lăk, An Giang, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Khoa học Vật liệu).

·        Hỗ trợ các hoạt động nâng cao năng lực trong việc xây dựng và thực hiện chính sách phát triển DNNVV (ở cấp trung ương); Xây dựng và vận hành Cổng thông tin doanh nghiệp (Business Portal) tại 4 tỉnh của Chương trình; Hỗ trợ các hoạt động nhằm tăng cường đối thoại chính sách công – tư ở cấp quốc gia (tổ chức các hội thảo đối thoại, lấy ý kiến công – tư phục vụ soạn thảo Luật doanh nghiệp và Luật Đầu tư) và cấp tỉnh (tổ chức các sự kiện đối thoại công – tư theo các chủ đề khác nhau như thuế, đất đai); Giới thiệu và đưa vào sử dụng phương pháp Đánh giá tác động pháp luật (RIA) trong việc ban hành chính sách (phối hợp với Bộ Tư pháp); Củng cố chiến lược và hỗ trợ cho ngành trọng điểm – ngành du lịch; xây dựng bộ tài liệu xúc tiến đầu tư của các tỉnh của Chương trình bằng tiếng Anh và tiếng Việt; Xác định/xây dựng/kết nối các chuỗi giá trị cho các sản phẩm vải, nhãn, mây, cà phê, hạt điều, quả bơ, cá da trơn và rau; Tăng cường năng lực cho Viện Khoa học vật liệu, Trung tâm kiểm định kỹ thuật an toàn công nghiệp 2, Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 trong việc phân tích những hư hỏng trong quá trình sản xuất.

7. Dự án do Ấn Độ tài trợ

Thành lập Trung tâm Phát triển Doanh nhân Việt Nam - Ấn Độ (VIEDC)

·        Dự án được thành lập trong khuôn khổ Kế hoạch công tác Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) giai đoạn I (2002 – 2009), Chính phủ Ấn Độ hỗ trợ các nước CLMV thành lập các trung tâm đào tạo doanh nhân theo kinh nghiệm thành công của Ấn Độ.

·        Thời gian thực hiện: từ 2005

·        Từ 2005-2007, Chính phủ Ấn Độ tài trợ $213,759 (gồm chi phí chuyên gia và tài liệu, máy móc thiết bị); Phía Việt Nam chịu trách nhiệm về chi phí quản lý, nhân sự và một số các hoạt động thường xuyên của dự án bằng nguồn vốn đối ứng.

·        VIEDC đã tổ chức 02 Khoá đào tạo về Nâng cao nhận thức về tinh thần lập nghiệp, 03 Khoá Đào tạo Khởi sự doanh nghiệp, 109 Khoá Đào tạo Nâng cao năng lực kinh doanh và phát triển doanh nghiệp; Ngoài ra VIEDC còn phối hợp với viện EDI-I của Ấn Độ tổ chức khảo sát, nghiên cứu về cơ hội kinh doanh tại Việt Nam.

·        Hiện tại, VIEDC đã trở thành một bộ phận của Trung tâm Hỗ trợ DNNVV phía Bắc trực thuộc Cục Phát triển doanh nghiệp/Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục thực hiện các hoạt động đào tạo trợ giúp doanh nghiệp.

8. Dự án do Hoa Kỳ tài trợ

Dự án “Vietnam Competitiveness Initiative” VNCI (đã kết thúc)

·        Tổng vốn đầu tư (vốn ODA): USD 9.667.785

·        Thời gian thực hiện: tháng 12/2003 – 9/2008

·        Phía Mỹ đã lựa chọn nhà thầu Development Alternative Inc. (DAI) để thực hiện các hoạt động và quản lý tài chính của dự án. Nhà thầu DAI chủ động cử chuyên gia tư vấn nước ngoài, tuyển chọn cán bộ dự án, lập kế hoạch các hoạt động, phối hợp với các cơ quan Việt Nam liên quan và không cần có ý kiến phê duyệt của Cục đối với bất cứ vấn đề gì và không cần xin visa cho chuyên gia nước ngoài thông qua Cục. Công việc phối hợp giữa Cục và văn phòng dự án VNCI chỉ giới hạn ở việc trao đổi chuyên môn qua một số ít đầu việc của dự án và qua các hoạt động của SMEPG.

9. Dự án do World Bank tài trợ

Dự án “Đổi mới sáng tạo hướng tới người thu nhập thấp”

·        Thời gian thực hiện dự kiến từ 2013-2018, Tổng vốn của dự án: 55.625.000 USD, Trong đó Vốn ODA dự kiến: 55 triệu USD (vốn vay ưu đãi từ WB), Vốn đối ứng dự kiến: 12,5 tỷ đồng tương đương USD 625.000.

·        Mục tiêu chủ yếu của dự án là hỗ trợ các Viện nghiên cứu, doanh nghiệp trong việc hoàn thiện, tiếp nhận, nâng cấp, phát triển, mở rộng quy mô và thương mại hóa công nghệ đổi mới nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ người thu nhập thấp, góp phần cải thiện đời sống của người thu nhập thấp.

·        Dự án tập trung vào 03 lĩnh vực ưu tiên có tác động quan trọng đối với cộng đồng, bao gồm: Dược liệu và y học cổ truyền, công nghệ thông tin và truyền thông, nông nghiệp thủy sản. Đối tượng thụ hưởng trực tiếp của dự án là: (i) Các Viện Nghiên cứu và phát triển (RDI) tham gia lĩnh vực đổi mới công nghệ, cá nhân có sáng kiến đổi mới công nghệ cấp cơ sở; (ii) Các doanh nghiệp tham gia ứng dụng, nâng cấp và đổi mới công nghệ; (iii) Các cơ quan Chính phủ hoạch định chính sách phát triển doanh nghiệp và chính sách đổi mới công nghệ.

 

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article